- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Hồng Y và anh Nguyễn Chi L"
- Căn cứ chính? Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! TỈNH!CÀ!MAU Bản án số: 100/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16/7/2020 |
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Bình Triệu
2. Ông Đặng Hoàng Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng Y, sinh năm 1991 (có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Chi L, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!!
!
*Tại đơn khởi kiện ngày 28/4/2020, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Trần Thị Hồng Y trình bày:
Chị và anh L đuợc hai bên gia đình tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 11/12/2012. Thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh L không lo làm ăn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên anh chị đã ly thân khoảng 02 năm nay. Xét thấy không thể tiếp tục chung sống được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Chi L.
Về con chung: Chị và anh L có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 19/10/2014, hiện nay cháu N do chị Y nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.
Về nội dung: Tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thể hiện chị Y và anh L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị Y yêu cầu ly hôn với anh L. Do đó, áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Y và anh L được ly hôn. Con chung tên Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 19/10/2014 cần tiếp tục giao cho chị Y nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xét. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Y chịu 300.000 đồng.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị Hồng Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Chi L. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh L có địa chỉ tại ấp K, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị Y thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh L nhưng anh L không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị Y và vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp
2 lệ các văn bản tố tụng này cho anh L nhưng anh L vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh L theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[3] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng Y và anh Nguyễn Chi L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 12/11/2012. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa chị Y cho rằng thời gian chung sống giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh chị đã ly thân từ 02 năm nay nên chị Y yêu cầu ly hôn với anh L. Điều này phù hợp với biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 06/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để chị Y và anh L có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh L vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Y và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Trần Thị Hồng Y và anh Nguyễn Chi L được ly hôn là phù hợp.
[4] Về con chung: Thời gian chung sống, chị Y và anh L có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 19/10/2014. Xét thấy, cháu N hiện tại chị Y đang nuôi dưỡng, việc hoán đổi nuôi con sẽ ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Đồng thời, từ khi thụ lý vụ án Tòa án có thông báo cho anh L về việc chị Y yêu cầu nuôi dạy cháu N nhưng anh L không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Y. Do đó, cần tiếp tục giao cháu N cho chị Y tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh L không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con chị Y không yêu cầu nên không xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Y xác định vợ chồng không có tài snar chung và không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Tại xác nhận ngày 26/3/2020 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận hiện tại không ai khiếu kiện chị Y và anh L về nợ tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
3
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Hồng Y phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng Y và anh Nguyễn Chi L được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Bảo N, sinh ngày 19/10/2014 (giới tính nữ) cho chị Trần Thị Hồng Y tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Chi L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Hồng Y phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 28 tháng 4 năm 2020 chị Y có dự nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011124 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.!!
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh L vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
4
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thới Bình; -Chi cục THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã T; -Lưu hồ sơ. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! !!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TOÀ! !!!!!Nguyễn!Thị!Khoa! 5 |