vanban.org

Bản án 100/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn Bằng và bà Huỳnh Thị Diệu.

Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Nhật Duy, sinh ngày 01/5/2010 cho ông Bằng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Huỳnh Thị Diệu có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con ông Bằng chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Kim Kê + Dương Văn Kế"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn Bằng và bà Huỳnh Thị Diệu.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2020/HNGĐ-ST
Ngày 18 - 5 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Trung Trực

Bà Phạm Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 18 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 213/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đổ Kim K, sinh năm 1986

Cư trú tại: Ấp Khai Hoang, xã Q , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Dương Văn K , sinh năm 1983.

Cư trú tại: Ấp Khai Hoang, xã Q , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2020 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn chị Đổ Kim K trình bày:

Về hôn nhân: Chị K và anh K chung sống với nhau vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, dẫn đến vợ chồng đã ly thân cách đây 03 năm. Nay, chị xác định không còn tình cảm với anh K nên chị yêu cầu được ly hôn với anh K .

Về nuôi con chung: Tên Dương Mỹ D , sinh ngày 15/01/2005 và Dương Yến L , sinh ngày 09/02/2012, hiện cháu D đang sống cùng anh K và cháu L đang sống cùng chị. Khi ly hôn anh chị thỏa thuận chi nuôi cháu Linh và giao cháu D cho anh K nuôi dưỡng, cấp dưỡng không đặt ra.

- Trong qúa trình giải quyết vụ án bị đơn anh Dương Văn K trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn và mẫu thuẫn đúng như chị K trình bày. Nay anh xét thấy tình cảm của anh với chị K không còn và anh cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chi K .

Về nuôi con chung: Đúng như chị K trình bày. Khi ly hôn anh thống nhất theo yêu cầu của chị K , anh đồng ý nuôi cháu D và giao cháu L cho chị K nuôi dưỡng, cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản chung và nợ: Chị K và anh K xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Vào ngày ngày 06/5/2020 chị Đổ Kim K là nguyên đơn và anh Dương Văn K là bị đơn trong vụ án có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Kê và anh K .

Về hôn nhân. Chị K và anh K chung sống với nhau vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn và đến nay anh chị chưa đăng ký kết hôn theo quy định, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị không có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị K cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng đã ly thân hơn 03 năm. Nay, chị yêu cầu được ly hôn với anh K , anh K đồng ý lý hôn theo yêu cầu của chị K . Tuy nhiên, do chị K với anh K chung sống với nhau trong thời gian dài, mặc dù đủ điều kiện kết hôn nhưng lại không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị K với anh K là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Tên Dương Mỹ D , sinh ngày 15/01/2005 và Dương Yến L , sinh ngày 09/02/2012, hiện cháu D đang sống cùng anh Kế và cháu L đang sống cùng chị K . Khi ly hôn anh chị thỏa thuận chi K nuôi cháu L và giao cháu D cho anh K nuôi dưỡng, cấp dưỡng không đặt ra. Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “…vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; …nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Viện dẫn từ điều luật trên thấy rằng, tại biên bản trình bày nguyện vong của cháu Duyền và cháu L vào ngày 07/5/2020 cháu Duyền có nguyện vong ở với cha là anh Dưỡng Văn K và cháu L có nguyện vọng ở với mẹ là chị Đổ Kim K . Do đó, cần giao cháu D cho anh K và giao cháu L cho chị K nuôi dưỡng. Chị K và anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Chị K và anh K xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, chị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53; Điều 81; khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Đổ Kim K với anh Dương Văn K là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Giao Dương Mỹ D , sinh ngày 15/01/2005 cho chị Kê và giao cháu Dương Yến L , sinh ngày 09/02/2012 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Đổ Kim K và anh Dương Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị K phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010579 ngày 06/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị K , anh K có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Đương sư;

- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VT.Tòa án Đầm Dơi.

(Đã ký)

Ngô Giang Nam

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút, ngày 18 tháng 5 năm 2020

Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Châu Trung Trực và bà Phạm Thị Hà.

Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 213/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp ly hôn giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đổ Kim Kê, sinh năm 1986.

- Bị đơn: Anh Dương Văn Kế, sinh năm 1983.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1/ Về điều luật căn cứ:

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53; Điều 81; khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3 (100%)

2/ Xử:

Về hôn nhân: Không công nhận chị Đổ Kim Kê với anh Dương Văn Kế là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Giao Dương Mỹ Duyền, sinh ngày 15/01/2005 cho chị Kê và giao cháu Dương Yến Linh, sinh ngày 09/02/2012 cho anh Kế trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Đổ Kim Kê và anh Dương Văn Kế có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.

Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3 (100%)

3. Các vấn đề khác:

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Kê phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010579 ngày 06/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà Ảnh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về kháng cáo:

Chị Kê, anh Kế có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3 (100%)

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 18 tháng 5 năm 2020.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐÔNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 67/2020/HNGĐ-ST

Ngày 27 - 3 - 2020

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Văn

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Bằng, sinh năm 1976. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Diệu, sinh năm 1980. (vắng mặt)

Cùng cư trú tại: Ấp Xóm Rẩy, xã Quách Phẩm Bắc, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/02/2020 trong qúa trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Bằng trình bày:

Về hôn nhân: Ông với bà Diệu chung sống vào năm 1998, hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống bà Diệu tự ý bỏ nhà đi nên vợ chồng ly thân khoảng 02 năm nay. Sau đó bà Diệu làm bản thỏa thuận xác định vợ chồng chung sống bất đồng quan điểm, do tính tình không hợp nhau nên thường xuyên cự cãi. Nay, ông xác định tình trạng hôn nhân đã lâm vào trầm trong, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận mối quan hệ của ông với bà Diệu là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Có 02 người con tên Nguyễn Chí Nguyễn, sinh ngày 10/02/1999. Cháu Nguyễn đã trưởng thành, không hạn chế về khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Nhật Duy, sinh ngày 01/5/2010, hiện đang sống cùng ông. Khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi cháu Duy, không yêu cầu bà Diệu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Không có.

Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Diệu: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Diệu theo quy định pháp luật, nhưng bà Diệu không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Bằng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Huỳnh Thị Diệu là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng bà Diệu vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Diệu.

Về hôn nhân. Ông Bằng với bà Diệu chung sống vào năm 1998, hôn nhân tự nguyện, không có đăng ký kết hôn và đến nay ông bà chưa đăng ký kết hôn theo quy định, do đó quan hệ hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Ông Bằng cho rằng, quá trình chung sống bà Diệu tự ý bỏ nhà đi nên vợ chồng ly thân khoảng 02 năm nay. Nay, ông xác định không còn tình cảm với bà Diệu nên yêu cầu Tòa án tuyến bố không công nhận mối quan hệ giữa ông với bà Diệu là vợ chồng. Do ông Bằng với bà Diệu chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của ông Bằng.

Về nuôi con chung: Tên Nguyễn Nhật Duy, sinh ngày 01/5/2010, hiện cháu Duy đang sống cùng ông Bằng. Khi ly hôn ông Bằng yêu cầu nuôi cháu Duy, không yêu cầu bà Diệu cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “…vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; …nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Viện dẫn từ điều luật trên thấy rằng, tại biên bản ghi nguyện vong của cháu Duy vào ngày 27/02/2020 cháu Duy có nguyện vong ở với cha là ông Bằng. Do đó, cần giao cháu Duy cho ông Bằng tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Diệu có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con ông Bằng chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ: Ông Bằng xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, ông Bằng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53; Điều 81; khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Văn Bằng và bà Huỳnh Thị Diệu.

2. Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Nhật Duy, sinh ngày 01/5/2010 cho ông Bằng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà Huỳnh Thị Diệu có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con ông Bằng chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Bằng phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010296 ngày 07/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; ông Bằng đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ông Bằng có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Diệu có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ