- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự phúc thẩm bị cáo Phạm Tuấn A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2019/HS-PT Ngày 29 tháng 8 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa
Các Thẩm phán: - Ông Nguyễn Anh
- Bà Bùi Thị Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nguyên Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhơn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2019/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Phạm Tuấn Anh do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Tuấn A, sinh năm 1986 tại Nghệ An; nơi cư trú: Khối 1, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Hồng T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; vợ: chưa, có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 7/2018, Phạm Tuấn A đến quán bar Phương Đông tại thành phố Đà Nẵng chơi. Tại đây, A gặp một người (không rõ lai lịch) cho 1/2 viên nén màu hồng (thuốc lắc) nên cất giữ để sử dụng.
Khoảng 20 giờ ngày 03/8/2018, A đến khu vực gần khách sạn M tại số 60 TP, thành phố N mua 01 bịch ma túy (dạng cỏ) của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) với giá 1.500.000 đồng để sử dụng.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07/8/2018 tại Cảng hàng không Quốc tế Cam Ranh, khi làm thủ tục bay chuyến Cam Ranh – Vinh, A bị đội An ninh sân bay phát hiện qua máy soi chiếu hành lý xách tay và thu giữ: 01 hộp màu đen, bên ngoài có ghi dòng chữ SQUEEZE bên trong có chứa thảo mộc (ký hiệu A); 01 hộp nhựa màu trắng có ghi dòng chữ CARBOMINT bên trong đựng 1/2 viên nén màu hồng (ký hiệu B); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5SE, màu hồng và một số giấy tờ cá nhân.
Tại Bản kết luận giám định số 466/GĐTP ngày 17/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Các mảnh viên nén trong mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng là 0,4817gam.
Tại Bản kết luận giám định số 4244/C09B ngày 23/10/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: mẫu thảo mộc khô được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại lá cây cần sa, có khối lượng là 0,8730gam.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh đã quyết định: Áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tuấn A.
Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 20 tháng 5 năm 2019 (Tòa án nhận đơn ngày 31 tháng 5 năm 2019), Phạm Tuấn A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm vì các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ, đúng pháp luật; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên hợp lệ và được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07/8/2018, tại khu vực Cảng hàng không Quốc tế Cam Ranh, thuộc tổ dân phố N, phường C, thành phố Cam Ranh; Phạm Tuấn A có hành vi tàng trữ trái phép 0,4817gam ma túy, loại MDMA và 0,8730gam ma túy, loại lá cây cần sa.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 01 (Một) năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo. Ngoài ra, bản án sơ thẩm có tuyên tịch thu tiêu hủy 0,7334gam ma túy, loại lá cần sa nhưng tại phần nhận định của Hội đồng xét xử lại không đề cập đến hành vi tàng trữ trái phép 0,7334gam ma túy này của bị cáo là có thiếu sót; cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343; Điểm a Khoản 1 và Khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
Áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Tuấn A.
Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Phạm Tuấn Anh phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 29 tháng 8 năm 2019).
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I – TANDTC; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - TAND thành phố Cam Ranh; - VKSND thành phố Cam Ranh; - Công an thành phố Cam Ranh; - Chi cục THA dân sự thành phố Cam Ranh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Anh Khoa |