- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Tuyến tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!YÊN!PHONG! TỈNH!BẮC!NINH! Bản!án!hình!sự!sơ!thẩm! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 100/2018/HSST Ngày 12/7/2018 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!YÊN!PHONG!
!
!Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Ngọc Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Long, bà Trần Huyền Trang.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2018/TLST-HS, ngày 06 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2018/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần!Văn!Tuyến,!sinh!năm!1978.!
Trú tại: Khu phố Xuân Đài, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Thọ, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1950; gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là thứ 4; vợ là Linh Thị Kim Thoa, sinh năm 1985; có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 11/5/2009 bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn xử phạt 08 tháng tù về tội “đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng 12 ngày.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2018 đến nay (có mặt tại phiên toà).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23h20’ ngày 03/3/2018, Công an huyện Yên Phong phối hợp với Công an thị trấn Chờ kiểm tra bắt quả tang tại phòng VIP 1, quán Karaoke Mộc ở Khu đô thị mới, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong có các đối tượng gồm: Trần Văn Tuyến; Lưu Văn Quân, sinh năm 1982, trú tại: Thôn Yên Hậu, xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong; Trương Thị Trâm, sinh năm 1990, trú tại: Thôn Đông Thái, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong; Tô Thị Xuân, sinh năm 1992, đăng ký HKTT: Thôn Đào Xá, xã Đào Dương, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Trần Thị Huyền Trang, sinh năm 1995, đăng ký HKTT: Thôn Yên Thủy 2, xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và Phạm Thị Hòa, sinh ngày 11/07/1999, đăng ký HKTT: Bản Nưa, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đang có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ:!
+ 01 túi nilon màu trắng được chia làm 2 ngăn, một ngăn bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, một ngăn bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1.
+ 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn màu vàng và 01 viên nén màu vàng bị vỡ vụn được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2.
+ 01 chiếc đĩa sứ màu trắng và 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ quấn thành ống hút dán ngoài bằng giấy bóng đều có bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong túi hồ sơ hộ khẩu ký hiệu M3.
Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ và niêm phong vật chứng rồi gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 329A/KLGĐMT-PC54 ngày 04/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh đã kết luận:
“+ Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,3552 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
+ Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,1250 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.
+ 02 viên nén hình tròn màu vàng và 01 viên nén màu vàng bị vỡ bên trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng 0,6338 gam; Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp trong mẫu vật giám định.
+ Chất bột màu trắng bám dính trên chiếc đĩa sứ được niêm phong trong túi hồ sơ hộ khẩu ký hiệu M3 có khối lượng 0,0151 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.
+ Chất bột màu trắng bám dính trên ống hút quấn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng niêm phong trong túi hồ sơ hộ khẩu ký hiệu M3 có khối lượng 0,0031 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine”.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Trần Văn Tuyến và các đối tượng khai nhận: Khoảng 13h, ngày 03/3/2018, Trần Văn Tuyến đến nhà Lưu Văn Quân ở thôn Yên Hậu, xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh để chơi hội. Tại đây, Tuyến gặp Trương Thị Trâm (là bạn của Quân). Khoảng 18 giờ cùng ngày Tuyến rủ Quân và Trâm lên thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh hát karaoke. Tuyến thuê xe ôm đi trước. Trên đường đi, người lái xe ôm có nói cho Tuyến là dạo này ở đây bọn nó hay chơi “ke” lắm. Do có sử dụng ma túy tổng hợp từ tháng 7/2017 nên Tuyến biết “ke” là ma túy tổng hợp. Tuyến nhờ người lái xe ôm mua hộ 200.000đ tiền “ke”. Người lái xe ôm đồng ý và đòi trả tiền công mua hộ là 300.000đ, Tuyến đồng ý. Khi đi đến gần quán karaoke Gia Bảo ở khu đô thị mới, thị trấn Chờ, Tuyến đưa cho người đàn ông này 500.000đ để đi mua ma túy. Khoảng 30 phút sau người đàn ông này quay lại và đưa cho Tuyến một gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bóng, bên trong có 02 túi nilon màu trắng, một túi được chia làm hai ngăn, một ngăn chứa tinh thể màu trắng (Tuyến hiểu là ma túy “đá”), một ngăn chứa chất bột màu trắng (Tuyến hiểu là ma túy “ke”); túi nilon còn lại chứa 02 viên nén hình tròn màu vàng và một viên bị vỡ thành các mảnh vụn màu vàng (Tuyến hiểu đây là ma túy “kẹo”). Tuyến đút số ma túy trên vào túi quần phía trước bên phải và đi lên phòng hát của quán karaoke Gia Bảo và gọi điện thông báo quán hát cho Quân.
Khoảng 19 giờ cùng ngày, Quân và Trâm đi đến quán hát cùng Tuyến. Hát được khoảng một tiếng thì Tuyến thấy âm thanh của quán kém nên bảo sang quán khác. Tuyến, Quân và Trâm đi bộ sang quán karaoke Mộc cách đó khoảng 100m và thuê phòng VIP 1 ở tầng 3 của quán để hát. Quân nhắn tin cho Tô Thị Xuân (bạn của Quân, đang chơi hội ở thôn Yên Hậu) biết địa chỉ (trước đó, Quân đã gọi điện rủ Xuân đi hát karaoke, Xuân đồng ý). Khoảng 22 giờ cùng ngày, Xuân đi taxi đến karaoke Mộc. Lúc này, Tuyến lấy số ma túy vừa mua để cạnh đĩa sứ màu trắng đựng hoa quả trong phòng hát. Tuyến lấy túi nilon 2 ngăn đựng ma túy “ke”, “đá” và đổ một ít ma túy “ke” lên mặt đĩa sứ. Tuyến lấy 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ của Tuyến quấn lại thành ống hút, dán ngoài bằng giấy bóng và dùng ống hút này để hít ma túy trên đĩa sứ. Tuyến không bảo Quân, Xuân và Trâm sử dụng ma túy. Quân, Trâm và Xuân thấy Tuyến sử dụng ma túy thì cũng cầm ống hút quấn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ của Tuyến và cùng sử dụng ma túy. Tuyến không chú ý nên không biết Quân, Trâm, Xuân sử dụng ma túy như thế nào. Khoảng 23 giờ cùng ngày thì Trần Thị Huyền Trang (bạn của Tuyến) và Phạm Thị Hòa (bạn của Trang, Trang rủ đi hát cùng) đến phòng hát cùng nhóm của Tuyến. Khi cả bọn đang hát, nhảy thì Trang và Hòa thấy đĩa ma túy nên dùng ống hút quần bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ để sử dụng ma túy. Một lúc sau thì Tuyến lấy túi nilon chứa số ma túy “kẹo” để chiếc đĩa sứ rồi để xuống chân bàn trong phòng hát gần chỗ Tuyến ngồi. Khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày thì Công an ập vào bắt quả tang.
Bản cáo trạng số: 87/CTr-VKSYP, ngày 06/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Trần Văn Tuyến về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i, khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong duy trì quyền công tố trước phiên toà, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Văn Tuyến về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i, khoản 1, điều 249; điều 38; điểm s, khoản 1, 2 điều 51; điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử phạt Tuyến từ 14 đến 16 tháng tù.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000đ.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng.
Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Yên Phong, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu được, bản kết luận giám định và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23h20’ ngày 03/3/2018 tại phòng VIP I, quán Karaoke Mộc, Khu đô thị mới, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong. Trần Văn Tuyến đã có hành vi hành vi tàng trữ 0,3552 gam Methamphetamine và 0,1432 gam Ketamin mục đích để sử dụng. Hành vi của Trần Văn Tuyến đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạm vào điểm i, khoản 1, điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma tuý cũng là nguyên nhân phát triển các tội phạm hình sự khác. Việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 11/5/2009 bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn xử phạt 08 tháng tù về tội “đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng 12 ngày, phạt bổ sung 3.000.000đ. Bị cáo đã nộp xong tiền án phí và tiền phạt, bị cáo được đương nhiên xóa án, nhưng bị cáo không chịu cải tạo mà lại phạm tội. Bởi vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét thấy, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, cũng cần giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng: Xét thấy số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Chiếc đĩa sứ là công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 10.000đ là công cụ phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về nguồn gốc số ma túy, Tuyến khai nhờ người đàn ông làm nghề xe ôm mua giúp. Tuyến không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người này và đặc điểm của chiếc xe, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với Lưu Văn Quân, Trương Thị Trâm, Tô Thị Xuân, Trần Thị Huyền Trang và Phạm Thị Hòa đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng Trần Văn Tuyến. Tuy nhiên cả Quân, Trâm, Xuân, Trang và Hòa không biết việc Tuyến có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra không xử lý Lưu Văn Quân, Trương Thị Trâm, Tô Thị Xuân, Trần Thị Huyền Trang và Phạm Thị Hòa về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” mà xử lý những đối tương nêu trên về hành vi sử sụng trái phép chất ma túy với hình thức phạt tiền là phù hợp.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH!
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Tuyến phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i, khoản 1, điều 249; điều 38; điểm s, khoản 1, 2 điều 51; điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2, điều 106; khoản 1, 3 điều 329; điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Trần Văn Tuyến 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2018. Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày 12/7/2018 để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000đ.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
!!!!!!!Hội!thẩm!nhân!dân!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà! Nguyễn!Thế!Long!!!!!!Trần!Huyền!Trang!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Trần!Ngọc!Anh! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! !!!Nơi!nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM
- VKSND h. Yên Phong.!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Thẩm!phán!!-!Chủ!toạ!phiên!toà!
- Công an h. Yên Phong.
- VKS tỉnh Bắc Ninh.
- TAND tỉnh Bắc Ninh.
- THADS h. Yên Phong.
- Người tham gia tố tụng.
- Lưu.
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Trần!Ngọc!Anh!
! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! !