vanban.org

Bản án 100/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 05/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Tiến T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/3/2018. Phạt tiền bị cáo Vũ Tiến T 5.000.000 (Năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Tiến T mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2018/HS-ST
Ngày 05 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Đức.

Bà Phạm Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Hiển - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Tiến T , sinh ngày: 25/01/1970 tại Thái Bình. Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số nhà 143, Tổ 19, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Vũ Tiến T1, sinh năm 1943 và bà Phạm Thị L, đã chết. Có vợ là Nguyễn Thanh D, sinh năm 1972, có 01 con sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 1992 Vũ Tiến T có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Qua tra cứu và xác minh không có hồ sơ lưu). Năm 1994 Vũ Tiến T có hành vi trộm cắp tài sản (Qua tra cứu và và xác minh không có hồ sơ lưu). Ngày 02/04/1999 Vũ Tiến T có hành vi trộm cắp tài sản. Đến năm 2001 Công an huyện Vũ Thư ra quyết định đình chỉ vụ án theo Điều 25 Bộ luật hình sự 1999.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/3/2018 đến ngày 22/3/2018 chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973, trú tại: SN 05/6, đường Nguyễn Trãi, Tổ 06, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

- Những người chứng kiến:

+ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967, trú tại số nhà 23, Tổ 20, phường T, thành phố B, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

+ Ông Phạm Hồng Q, sinh năm 1965, trú tại số nhà 484, Tổ 10, phường Đ, thành phố B, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 16/3/2018, Vũ Tiến T đi từ nhà đến khu vực cầu Cống Trắng, Tổ 49, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T gặp và mua của 01 người phụ nữ khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 túi ma túy với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất vào túi quần bên trái đang mặc đi về. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày khi T đang đứng ở đầu ngõ 02, đường Trần Thái Tông, Tổ 19, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, thì có Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973, trú tại số nhà 5/6, đường Nguyễn Trãi, Tổ 6, phường K, thành phố Thái Bình đi xe ôm đến gặp T hỏi mua 500.000 đồng ma túy, T thấy có lời nên đồng ý bán. V đưa cho T 500.000 đồng, T nhận tiền của V cất vào túi quần bên trái đang mặc, đồng thời lấy từ trong túi quần bên trái ra đưa cho V 01 túi ma túy. Khi V vừa nhận túi ma túy cất vào túi quần bên phải phía trước của V thì bị tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Bình bắt quả tang.

Kiểm tra người V , thu tại túi quần bên phải V đang mặc 01 túi nilon trong suốt, mở ra bên trong là chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong ký hiệu M), V khai đó là hêrôin vừa mua của T với giá 500.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra người T, thu tại túi quần bên trái phía trước T đang mặc số tiền 500.000 đồng, T khai là tiền vừa bán ma túy cho V mà có.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Tiến T tại số nhà 143, Tổ 19, đường T, phường D, thành phố B, tỉnh Thái Bình nhưng. không thu giữ tài liệu đồ vật gì.

Tại Kết luận giám định số 95/KLGĐ-PC54 ngày 16/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu M gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,0323 gam (Không phẩy không nghìn ba trăm hai mươi ba gam).

Tại bản cáo trạng số 98/KSĐT ngày 18/6/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Vũ Tiến T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Tiến T khai nhận toàn bộ hành vi như mô tả ở trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Tiến T như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố Vũ Tiến T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Vũ Tiến T từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ nhà nước 500.000 đồng là tiền T bán ma túy mà có; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu của Nguyễn Tiến V còn lại sau giám định.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có cơ sở khẳng định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/3/2018 tại ngõ 02, đường Trần Thái Tông, Tổ 19, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, Vũ Tiến T có hành vi bán trái phép 0,0323 gam Hêrôin cho Nguyễn Tiến V lấy 500.000 đồng. Hành vi của Vũ Tiến T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Theo Điều 251 Bộ luật hình sự thì: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nhà nước, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây nhiều tác động xấu đến xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vì hám lời nên vẫn cố ý phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Tiến T khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi do bị cáo thực hiện cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy cần xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự còn quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, xét T bán ma túy cho V có thu lời, bản thân có việc làm và thu nhập ổn định nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, số tiền 500.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; số ma túy quản lý của Nguyễn Tiến V còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Tiến V là người mua ma túy của Vũ Tiến T để sử dụng, V chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lượng ma túy tàng trữ chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính đối với anh V là đúng quy định của pháp luật. Về nguồn gốc số ma túy Vũ Tiến T khai mua của một người phụ nữ khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực cầu Cống Trắng, Tổ 49, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Vũ Tiến T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/3/2018.

Phạt tiền bị cáo Vũ Tiến T 5.000.000 (Năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng quản lý của Vũ Tiến T ; tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy quản lý của Nguyễn Tiến V còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 95/KLGĐ – PC 54, mẫu vật hoàn trả sau khi giám định.

(Các vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng và thể hiện trong Biên lai thu tiền số 0001257 đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 19/6/2018).

4. Về án phí: Bị cáo Vũ Tiến T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vũ Tiến T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 05/7/2018. Anh Nguyễn Tiến V có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ