- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn V- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ! !!!!!!TỈNH!HÀ!NAM! Bản án số: 100/2018/HS-ST! Ngày 09 - 8-2018 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ!-!TỈNH!HÀ!NAM!
!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:"Bà Nguyễn Thị Mai Oanh.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"
Ông Đặng Văn Đức.
Bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lập - Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam."
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2018/TLST-HS ngày 03/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2018/QĐXXST-HS ngày 26/7/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh năm 1983 tại Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn V, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961 và bà Dương Thị H, sinh năm 1957; có vợ là Lê Thị T, sinh năm 1989 và có 02 con, lớn 06 tuổi, nhỏ 02 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/4/2012 Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 24 tháng; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2018 đến nay; Có mặt.
*!Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan!đến!vụ!án:!Chị Lê Thị T, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn V, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Có mặt.
*!Người!làm!chứng:!Anh Trần Nam T, sinh năm 1979; Trú tại: Xóm 1, B, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.!
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo"các"tài"liệu"có"trong"hồ"sơ"vụ"án"và"diễn"biến"tại"phiên"tòa,"nội"dung"vụ" án"được"tóm"tắt"như"sau:"
Khoảng 11 giờ 30 ngày 02/5/2018, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô BKS 90B2-024.79 từ phố Đ, thuộc tổ dân phố M, phường L, thành phố P đến khu vực chợ T thuộc tổ dân phố B, phường T, thành phố P để tìm mua ma túy sử dụng, V gặp người thanh niên khoảng 30 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ) đứng và hỏi “Bán cho một gói ma túy”, người thanh niên không nói gì mà gật đầu, V lấy trong người ra số tiền 270.000đ đưa cho người thanh niên, người thanh niên cầm tiền rồi đưa cho V 01 gói nilon màu xanh hàn kín. Biết bên trong gói nilon có ma túy nên V cầm gói nilon đút vào túi áo ngực rồi điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường 27 gần khu vực Bến xe khách tỉnh Hà Nam thuộc tổ dân phố T, phường L, thành phố P thì bị lực lượng Công an tỉnh Hà Nam phát hiện có biểu hiện nghi vấn yêu cầu dừng xe kiểm tra. Phát hiện trong túi áo ngực của V có 01 gói nilon màu xanh, mở ra bên trong có gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ V khai nhận là gói ma túy cất giữ mục đích để sử dụng. Lực lượng công an tiến hành lập biên bản theo quy định của pháp luật.
Thu giữ vật chứng gồm:
- Gói nilon màu xanh bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.
- 01 xe mô tô màu trắng - đen - bạc, BKS 90B2-024.79
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Văn V ở thôn V, xã L, thành phố P. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 71/PC54-MT ngày 04/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu"bột"màu"trắng"dạng"cục"trong" phong"bì"ký"hiệu"QT01"gửi"giám"định"là"ma"túy,"có"khối"lượng"0,198"gam,"loại" Heroine." Heroine" là" chất" ma" túy" nằm" trong" danh" mục" I," STT" 20" Nghị" định" số" 82/2013/NĐ-CP"ngày"19/7/2013"của"Chính"phủ”.
Bản cáo trạng số 97/CT-VKS-PL ngày 02/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Nguyễn Văn V về tội “Tàng"trữ"trái"phép"chất"ma" túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).
* Tại phiên tòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn V và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
+ Xử phạt Nguyễn Văn V từ 24 tháng đến 30 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số heroine cùng bao gói; trả lại bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO.
- Bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Chị Lê Thị T có quan điểm: Chị là vợ của bị cáo V, chiếc xe mô tô BKS 90B2-024.79 mà Công an thu giữ của bị cáo là của chị, chị cho bị cáo mượn để đi lại chứ không biết bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam đã trả lại chị chiếc xe này rồi nên chị không có ý kiến gì.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên"cơ"sở"nội"dung"vụ"án,"căn"cứ"vào"các"tài"liệu"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã"được" tranh"tụng"tại"phiên"tòa,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"định"như"sau:"
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp chứng cứ khác của vụ án như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án.
Hội"đồng"xét"xử"có"đủ"cơ"sở"để"kết"luận:"Khoảng 12 giờ ngày 02/5/2018, tại tổ dân phố T, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn V đang cất giấu trái phép 0,198 gam, loại Heroine (Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 20 Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ), mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng"trữ"trái"phép"chất"ma" túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4] Về hình phạt:
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy có nhân thân xấu, ngày 10/4/2012 Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Hà Nam ra Quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục trượt dài vào con đường nghiện ma túy dẫn đến phạm tội. Do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng sẽ cân nhắc đến yếu tố này.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện,ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố P, đồng thời kéo theo các tệ nạn xã hội, tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy từ lâu, đã có 01 tiền sự (đã được xóa) liên quan đến ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội không có mục đích trục lợi nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng thanh niên khoảng 30 tuổi đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn V ở khu vực chợ T thuộc tổ dân phố B, phường T, thành phố P. Quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, nhân thân của đối tượng này nên chưa có căn cứ để xử lý.
[6] Về xử lý vật chứng đã thu giữ:
- Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn V cùng bao gói cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng thu giữ của bị cáo. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại bị cáo.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS 90B2-024.79 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị T (vợ bị cáo). Chị T cho bị cáo mượn xe để đi lại mà không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện để đi mua trái phép ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam đã trả lại chiếc xe này cho chị T là phù hợp quy định của pháp luật.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH:!
1/ Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 106, 136, 321 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội:“Tàng" trữ" trái" phép" chất" ma" túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2018.
3. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã niêm phong số 71/PC54-MT mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT01 tại mép dán mặt sau có các chữ ký của Nguyễn Thị Lan H, Mai H, một chữ ký đóng dấu chức danh Trưởng phòng Trung tá Nguyễn Đại H và ba dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn V: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, có số IMEI1: 861890035001991, IMEI2: 861890035001983.
(Tình"trạng,"đặc"điểm"vật"chứng"theo"Biên"bản"giao,"nhận"vật"chứng"giữa"Cơ" quan"CSĐT"Công"an"thành"phố"Phủ"Lý"và"Chi"cục"thi"hành"án"dân"sự"thành"phố" Phủ"Lý"lập"ngày"04/7/2018)"
4. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; ! - VKSND thành phố Phủ Lý; ! - Công an thành phố Phủ Lý; - Chi cục THA DS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo; - Người có QLNVLQĐVA; - Lưu hồ sơ. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! (Đã!ký)! ! Nguyễn!Thị!Mai!Oanh |