vanban.org

Bản án 100/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 28/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Ch 36 (ba mươi sá u) tháng tù, thờ i hạ n chấ p hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: 15/4/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Ch - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
_______________________
Bản án số: 100/2018/HS-ST
Ngày: 28 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Phi Long

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Đỗ Thị Hân

- Ông Nguyễ n Văn Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Thu Hà , Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Vĩ, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tò a công khai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2018/HSST-QĐ ngày 14 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân thà nh phố M để tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ l

ý số 91/2018/HSST ngày 30/7/2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Ch (không có tên gọi khác) Sinh ngà y 10/8/1996 tại H, Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thườ ng trú - nơi cư trú: Khu 4, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chú a giá o; nghề nghiệ p: nhân viên quán Karaoke T&T; trình độ văn hóa: 11/12; tên bố : Phạm Văn Ch (sinh năm: 1970); tên mẹ : Nguyễn Thị L (sinh năm: 1974); vợ , con: chưa có ; tiề n án, tiề n sự : không; nhân thân: Ngày 11/5/2012, bị đưa đi Trường giáo dưỡng số 2 thuộc Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp vì có hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cá o bị bắt quả tang ngày 15/4/2018, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

Ngườ i chứng kiến:

Ông Nguyễ n Công H, sinh năm 1952; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 1, phườ ng K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ bả n cá o trạ ng số 101/CT-VKS-MC ngà y 27/7/2018 của Viện kiể m sá t nhân dân thà nh phố M cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ á n đượ c thể hiệ n như sau:

Chiều ngày 14/4/2018, Phạm Văn Ch đến khu nhà trọ ở khu 3, phường H, thành phố M, gặp và hỏi mua của đối tượng tên là Tùng (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 túi ma tuý với giá 10.000.000 đồng, nhưng xin cho nợ tiền, mục đích để bán kiếm lời. Tùng đồng ý và đưa cho Ch 01 túi ma túy cùng một số vỏ túi nilon. Ch mang túi ma tuý cùng các vỏ túi nilon về cất giấu tại gầm tủ lạnh đặt ở tầng 01 của quán Karaoke T&T (nơi Ch làm việc), thuộc khu H, phường N, thành phố M. Đến khoảng 20 giờ ngày 15/4/2018, Ch đến quán Karaoke T&T, lấy túi ma túy và các túi nilon đã cất giấu trên cho vào chiếc túi giả da cầm tay để đem bán. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi Ch đang ngồi uống nước ở trước cửa quán Karaoke T&T, thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an thành phố M phát hiện, bắt quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang , thể hiệ n: Hồ i 23 giờ 00 phút ngày 15/4/2018, tổ công tá c củ a Độ i CSĐT tộ i phạ m về ma tú y - Công an thành phố M, trên đườ ng là m nhiệ m vụ khi đi đế n trướ c cử a quá n Karaoke T&T thuộ c khu H, phườ ng N, thành phố M thì phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn tộ i phạ m về ma tú y, tổ công tá c đã yêu cầ u kiể m tra, khi đượ c hỏ i nam thanh niên khai tên Phạm Văn Ch (có lý lịch như trên). Tổ công tác đã yêu cầu Ch tự bỏ tấ t cả đồ vậ t mang theo trên ngườ i để kiể m tra thì phát hiện, thu giữ trong chiế c tú i cầ m tay giả da , kẻ caro màu đen - bạc, kích thướ c khoả ng (25x20)cm đự ng 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (10x06)cm, bên trong tú i nilon nà y đự ng 13 vỏ túi nilon màu trắng, đều có kích thước khoảng (03x03)cm và 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (9,5x06)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tú y . Ngoài ra còn thu trong túi quần của Ch 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone: 01 cái màu đen gắn sim số 0971868301 và 01 cái màu trắng gắn sim số 0961019339.

Tại Bản kết luận giám định số 297/GĐMT ngày 18/4/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ghi thu giữ của Phạm Văn Ch gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng: 6,959 g (sáu phẩy chín năm chín gam).

Trong quá trình điều tra: Phạm Văn Ch khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người chứng kiến ông Nguyễ n Công H có nội dung lời khai thể hiện: Khoảng 23 giờ ngà y 15/4/2018, khi đi đế n trướ c cử a quá n Karaoke T &T (thuộ c khu H, phườ ng N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh ) ông đượ c chứng kiến lự c lượ ng công an đang yêu cầ u kiể m tra mộ t nam thanh niên (sau nà y biế t tên là Phạm Văn Ch ). Ch tự bỏ cá c đồ vậ t mang theo trên ngườ i ra để kiể m tra thì lự c lượ ng công an phát hiện, thu giữ các vật chứng trong vụ án và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Bản cáo trạng số 101/CT-VKS-MC, ngày 27/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Phạm Văn Ch về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Văn Ch nhận tội và khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo Phạm Văn Ch ; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch từ 30 tháng đến 36 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, ngày 15/4/2018.

Về hình phạt bổ sung: không á p dụ ng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điể m a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điể m a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 6,89g Ketamine hoàn lại sau giám định; 01 chiế c túi cầ m tay giả da, kẻ caro màu đen - bạc; 14 vỏ túi nilon màu trắng.

- Trả lại cho Phạm Văn Ch : 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone: 01 cái màu đen gắn sim số 0971868301 và 01 cái màu trắng gắn sim số 0961019339.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấ n và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Đá nh giá nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang , các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người chứng kiến, trên cơ sở kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/4/2018, tại khu Hồng Hà, phường N, thành phố M, Phạm Văn Ch có hành vi cất giấu trái phép 6,959g (sáu phẩy chín năm chín gam) Ketamine nhằm mục đích bán kiếm lời, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Các chứng cứ buộc tội của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn Ch đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậ y, quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M là có căn cứ pháp lý.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

[3] Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiể m cho xã hộ i, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vì vụ lợi cá nhân bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội , vì vậy cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng , chống tội phạm, phòng ngừa Ch.

[4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo không có tiền án , tiền sự, tại cơ quan điều tra bị cá o khai bá o thà nh khẩ n và tại phiên tòa bị cáo tiế p tụ c thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổ n đị nh. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết ấn định cho bị cáo mức hình phạt ở trong khung đã truy tố, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng: Cơ quan công an thu giữ của bị cáo Phạm Văn Ch 6,959 gam (sáu phẩy chín năm chín gam) Ketamine, hoàn lại sau giám định 6,89g; thu giữ 01 túi xách củ a Phạm Văn Ch trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (9,5x06)cm, chứa chất tinh thể màu trắng và 13 vỏ túi nilon kích thước (3x3)cm. Số ma túy hoàn lại sau giám định và các vật trên là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ , lưu hành, không có giá trị hoặc không sử dụng được do đó căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra còn thu giữ của Phạm Văn Ch 02 (hai) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone: 01 cái màu đen gắn sim số 0971868301 và 01 cái màu trắng gắn sim số 0961019339 tài sản này không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n.

[8] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra không xác định được nhân thân , lý lịch của người đàn ông tên Tù ng đã bán ma túy cho Ch nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Ch 36 (ba mươi sá u) tháng tù, thờ i hạ n chấ p hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: 15/4/2018.

II. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điể m a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Tịch thu tiêu hủy: 6,89g (sáu phẩy tám chín gam ) Ketamine hoàn lại sau giám định trong phong bì số 297/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh ; 01 túi cầm tay giả da , kẻ caro màu đen - bạc; 14 vỏ túi nilon mà u trắ ng không cò n giá trị sử dụ ng, đượ c niêm phong theo quy đị nh.

2. Trả cho Phạm Văn Ch 02 (hai) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone: 01 cái màu đen gắn sim số 0971868301 và 01 cái màu trắng gắn sim số 0961019339, nhưng tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố M quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 118/2018/THA, ngày 02/8/2018.

III. Về án phí:

Căn cứ vào khoả n 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộ c bị cá o Phạm Văn Ch phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

IV. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào khoả n 1 Điều 331 và khoả n 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo , báo cho b ị cáo biế t có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ