- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức H phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình s…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Văn K; giữ nguyên Bản án số 19/2018/HSST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện H về hình phạt đối với Lê Đức H.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2018/HS-PT Ngày: 16/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tuấn
Các thẩm phán:
Ông Hà Huy Hùng
Bà Lê Thị Dung
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Toà án
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Lê Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2018/TLPT-HS ngày 10/4/2018 đối với bị cáo Lê Đức H, do có kháng cáo của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HSST ngày 06/3/2018 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hoá.
Bị cáo bị kháng cáo:
Lê Đức H - sinh năm 1969
HKTT tại : Thôn Phú Trung, xã Hoằng Phú, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; trình độ văn hoá: 10/12; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức Th ( đã chết) và bà Lê Thị G; có vợ là Nguyễn Thị H, có 03 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/9/2017 đến ngày 20/9/2017 hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Người bị hại kháng cáo : Anh Trần Văn K ( còn gọi là K) – sinh năm 1985
Nơi ĐKHKTT: Thôn 7, xã Hoằng Qúy, huyện H, tỉnh Thanh Hoá, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 11/9/2017 Phạm Văn Phương chở máy gặt lúa đến nhà Lê Đức H để gặt lúa thuê cho bà con trên địa bàn xã Hoằng Phú. Do Phương để máy gặt gần nhà Nguyễn Danh H nên giữa anh H và Lê Đức H xảy ra xô xát nhưng đã được mọi người can ngăn.
Đến khoảng 21h 30 cùng ngày, Trần Văn K đến nhà Lê Đức H để hỏi việc H và Lê Đức H xảy ra xô xát lúc buổi trưa (H là người quen của K). Tại đây hai bên chửi bới nhau và được ông Trịnh Văn V (bố vợ K) can ngăn, đẩy K về. Do bực tức nên K tiếp tục quay lại nhà H gây sự, chửi bới H. Lúc này Lê Đức H dùng 01 đoạn sắt dài 92 cm, đường kính 1,4cm đập 01 phát vào đầu Trần Văn K. Ông V vào can ngăn thì bị Phạm Văn Phương dùng thanh sắt đập 01 phát vào đầu ông V làm ông V bị thương, tổn hại 08% sức khỏe.
Ngày 06/10/2017 ông V có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Phạm Văn P.
Sau khi bị Lê Đức H gây thương tích, anh K được mọi người đưa đi khám thương tại bệnh viện đa khoa Hàm Rồng, sau đó chuyển tuyến đến bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa điều trị.
Tại biên bản khám thương hồi 22h 30 phút ngày 11/9/2017 tại bệnh viện Đa khoa Hàm Rồng, Trần Văn K bị thương tích như sau:
- Vùng đỉnh trán có 01 vết thương rách da dài 15cm, rộng 0,5cm, sâu 1,5cm; bờ vết thương nham nhở bầm dập;
- Vùng gối trái có 01 vết thương xây xước da không rõ hình dài 05cm, rộng 03cm.
Điều trị đến ngày 18/9/2017 Trần Văn K xuất viện và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu giám định tỷ lệ % sức khỏe.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số: 417/2017/TTPY ngày 05/10/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Trần Văn K bị thương tích tổn hại 11% sức khỏe.
Về dân sự: Trần Văn K yêu cầu bị cáo Lê Đức H phải bồi thường số tiền 80.800.000đ bao gồm: Tiền công lao động 9 ngày x 2.000.000/ngày = 18.000.000đ; tiền thuốc và điều trị =7.000.000đ; tiền xe đi lại = 4.000.000đ; tiền công người chăm sóc =1.800.000đ; tiền bù đắp tổn thất tinh thần = 50.000.000đ.
Ngày 29/01/2018 Lê Đức H đã bồi thường cho anh K 7.000.000đ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H.
Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 19/2018/HSST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định: Lê Đức H phạm tội "Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 60 BLHS 1999; Khoản 3 Điều 7 BLHS 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14. Xử phạt Lê Đức H 30 ( ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên bồi thường dân sự; tuyên xử lý tang vật; tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Sau án sơ thẩm xử, ngày 12/3/2018, bị hại Trần Văn K có đơn kháng cáo với nội dung: Hành vi của Lê Đức H phạm tội có tính chất côn đồ, yêu cầu phải xử án giam đối với bị cáo mới thỏa đáng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh K vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên nhận thấy kháng cáo của bị hại cho rằng hành vi của Lê Đức H phạm tội có tính chất côn đồ là không có căn cứ nên đề nghị HĐXX giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lê Đức H.
Bị cáo không tranh luận gì với ý kiến của Kiểm sát viên, bị hại tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm như kháng cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra và xét xử ở cấp sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của người tiến hành tố tụng và của Cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của bị hại làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét.
Lời khai của bị cáo, bị hại tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nhận định của bản án sơ thẩm, thể hiện: Khoảng 21h ngày 11/9/2017,Trần Văn K là anh em kết nghĩa của Nguyễn Danh H, nghe tin anh H có xô xát với bị cáo H lúc buổi trưa nên anh K đã cùng một số người đến nhà bị cáo H, hỏi bị cáo: “Sao lại đánh người anh em của tao”. Tại đây hai bên chửi bới nhau, được ông V là bố vợ của K can ngăn, đẩy K về nhưng K vẫn tiếp tục quay lại để gây sự với H. Lúc này Lê Đức H đã vớ được một đoạn sắt dài 92cm, đường kính 1,4cm đập một phát vào đầu Trần Văn K, gây thương tích cho anh K mất 11% sức khỏe.
Hành vi nêu trên của Lê Đức H phạm tội “Gây thương tích” theo điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 như cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử là có căn cứ.
Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
Xét kháng cáo của bị hại thấy rằng: Việc mâu thuẫn xô sát nhẹ giũa Nguyễn Danh H và Lê Đức H buổi trưa ngày 11/9/2017 không xảy ra hậu quả gì và đã chấm dứt nhưng do động cơ bênh vực cho Nguyễn Danh H mà Trần Văn K đã chủ động đến nhà H vào lúc 21h cùng ngày, kéo theo một số người, gây sự với H. Mặc dù anh K đã được ông V can ngăn, đẩy về nhưng sau đó vẫn tiếp tục quay lại gây sự tiếp với H. Tại đây, anh K đã có những lời nói, cử chỉ thiếu văn hóa, gây tâm lý bức xúc cho Lê Đức H dẫn đến H không tự kiềm chế nên đã có hành vi gây thương tích cho anh K mất 11% sức khỏe.
Trong vụ án này, chính anh K là người có lỗi trước, gây tâm lý bức xúc cho bị cáo Lê Đức H như đã phân tích trên nên hành vi của bị cáo H không thuộc trường hợp “Phạm tội có tính chất côn đồ” như bị hại đã kháng cáo.
Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, xem xét đầy đủ về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự đối với Lê Đức H và xử phạt 30 tháng tù, cho hưởng án treo là phù hợp với quy định tại điều 60 BLHS1999. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của người bị hại mà cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với Lê Đức H.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét.
Bị hại kháng cáo về phần hình sự vụ án gây thương tích, tuy không được chấp nhận nhưng không pH chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Văn K; giữ nguyên Bản án số 19/2018/HSST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện H về hình phạt đối với Lê Đức H.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015; điểm b, p Khoản 1, 2 Điều 46, Điều 60 BLHS 1999; Khoản 3 Điều 7 BLHS 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Lê Đức H 30 ( ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Đức H cho UBND xã Hoằng Phú, huyện H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị hại Trần Văn K không pH chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - TAND huyện Hoằng Hóa; - VKSND Cấp cao; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Hoằng Hóa; - Công an huyện Hoằng Hóa; - Cơ qun THA hình sự, dân sự; - bị cáo, lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ( đã ký ) Dương Xuân Tuấn |