- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh H - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Thanh H và không chấp nhận kháng cáo xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo H hoặc cho bị cáo H được hưởng án treo của đại diện hợp pháp bị hại Lê Hoàng V: chị Đinh Thị Mỹ Th.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2018/HS-PT Ngày: 26-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử ph®c thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Trung Thành
Các ẩ
:
Ông Tô Phú Đông
ng Ngô Tấn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: ng Đ Thành Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 60/2018/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Phan Thanh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2018/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện L.
- c có
c
Phan Thanh H, sinh năm 1976, tại tỉnh Bình Dương; Đăng ký hộ khẩu thường trú và ch ở: Số 32, đường Võ Thành L, tổ 29, Khu 5, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Phan Văn L và bà: Nguyễn Thị Thu Ng; có vợ và có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 17/8/2017 bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính 700.000đ về hành vi “Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ”, đã đóng phạt xong; Tạm giữ ngày: 27/9/2017; Tạm giam ngày: 06/10/2017; Cho bảo lĩnh ngày: 03/11/2017; Hiện bị cáo đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- N ười bà c ữa c b c P a
a H ng Phan Văn B là Luật sư của Văn phòng Luật sư H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp; có mặt tại phiên tòa.
N ười đại diệ ợ
của b ại Lê H à V Chị Đinh Thị Mỹ Th, sinh năm 1983 (Vợ anh V);
Nơi cư trú: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diệ ợ
của b hại V M ười c
ợi
a ụ iê
a không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng ngh .
NỘI D NG V N:
e c c ài iệ c
ụ
à di bi ại iê a i d
ụ được
ư a
Ngày 05/6/2013, Phan Thanh H được Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp Giấy phép lái xe hạng E, được phép điều khiển xe khách trên 30 chổ ngồi. Khoảng 05 giờ sáng ngày 27/9/2017, Phan Thanh H điều khiển xe ô tô khách 45 chổ ngồi, mang biển số 61B-016.0x thuê cho chị Trần Kim H làm chủ xe, chạy từ tỉnh Bình Dương về huyện C, tỉnh An Giang. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe chạy trên tỉnh lộ 848, đến đoạn đường thuộc ấp AT, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo hướng đi từ phà C đến huyện C lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của xe, làm cho hông bên trái của xe ô tô khách va chạm vào kính chiếu hậu của xe mô tô mang biển số 66K2-834x do anh Lê Hoàng V điều khiển đi theo chiều ngược lại, phía sau có chở chị Võ Thị Tuyết M, làm cho anh V và chị M té văng vào gầm xe ô tô khách bị bánh sau bên trái xe ô tô khách cán qua phần đầu của anh V và chị M tử vong tại ch . H phanh xe lại, do quán tính xe trượt về phía trước đẩy chị M đi một đoạn khoảng 6.80m thì xe dừng lại. Sau khi phát hiện chị M và anh V tử vong, H đến Công an xã M đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phan Thanh H: 01 (một) xe ô tô khách biển số 61B-016.0x cùng 01 (một) giấy đăng ký xe; 01 (một) giấy phép lái xe hạng E, số 740013000029; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân tên Phan Thanh H; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm xe và thu giữ tại hiện trường 01 (một) xe mô tô biển số 66K2-834x. Hiện đã trả lại cho Phan Thanh H 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân tên Phan Thanh H; trả lại cho chị Trần Kim H 01 (một) xe ô tô khách biển số 61B-016.0x cùng 01 (một) Giấy đăng ký xe, 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định, 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm; trả lại cho anh Võ Quốc Th và Võ Quốc Nh (con ruột của bị hại Võ Thị Tuyết M) 01 (một) xe mô tô biển số 66K2-834x.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 290/TTh-TTPY ngày 27/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận nguyên nhân tử vong của Lê Hoàng V do: “Vỡ sọ, chấn thương sọ não”.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 291/TTh-TTPY ngày 27/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận nguyên nhân tử vong của Võ Thị Tuyết M do: “Vỡ sọ, chấn thương sọ não/đa thương nặng”.
Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 27/9/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thể hiện: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường được trải nhựa, rộng 6.10m, giữa đường có dải phân cách không liên tục. Từ vùng va chạm đo vào lề trái theo hướng đi của xe ô tô khách biển số 61B-016.0x là 1.85m. Phan Thanh H điều khiển xe ô tô khách lấn sang trái 1.20m va chạm vào xe mô tô biển số 66K2-834x do anh Lê Hoàng V điều khiển.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển số 66K2-834x ngày 27/9/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thể hiện: Xe bị hư hỏng phần đầu, đèn chiếu sáng bị bung ra, đèn tín hiệu phía trước hai bên bị bể mất, ốp nhựa đồng hồ công đờ mét bị bể mất, gương chiếu hậu bên trái bị bể mất, càng phanh tay bị gãy, gát chân trước bên trái bị cong quẹo, gát chân sau bên trái bị gãy mất.
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô khách biển số 61B-016.0x ngày 27/9/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thể hiện: Giữa thành xe bên trái có vết trầy xướt dài 0,40m, cách trục sau bên trái xe là 2,20m, lốp xe phía sau bên trái rách nham nhở nhiều nơi.
Trong quá trình điều tra, chị Trần Kim H là chủ sở hữu xe ô tô khách biển số 61B-016.0x và chị Ngô Thị Huyền Tr (vợ của Phan Thanh H) đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình chị Võ Thị Tuyết M tiền mai táng, tổn thất tinh thần, tiền sửa chữa xe mô tô, tiền cấp dưỡng cho Võ Quốc Nh, sinh năm 2000 (con ruột bị hại M) tổng số tiền 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng); thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Lê Hoàng V tiền mai táng, tiền tổn thất tinh thần, tiền cấp dưỡng cho Lê Minh H, sinh năm 2000 (con ruột bị hại V) tổng số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) và được đại diện hợp pháp của các bị hại làm đơn bãi nại không yêu cầu xử lý hình sự đối với Phan Thanh H.
Tại bản án số 01/2018/HSST ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện L đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Vi ạ
đ nh v đi u khiể ư
iệ ia ô đường b ”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 và khoản 5 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999;
Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Phan Thanh H đi chấp hành hình phạt tù, được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2017 đến ngày 03/11/2017.
Phạt bổ sung: Cấm bị cáo Phan Thanh H hành nghề lái xe ô tô thời gian là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29 tháng 01 năm 2018, bị cáo Phan Thanh H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 31 tháng 01 năm 2018, đại diện hợp pháp của bị hại Lê Hoàng V: Chị Định Thị Mỹ Th có đơn kháng cáo với nội dung xin miễn trách nhiệm hình sự hoặc xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Phan Thanh H, Tòa án cấp sơ thẩm quy kết tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tất cả các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét thấy, mức án 01 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Phan Thanh H là đã nhẹ so với tính chất mức độ mà hành vi của bị cáo gây ra. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; đại diện hợp pháp của bị hại V: chị Đinh Thị Mỹ Th có đơn kháng cáo xin miễn trách nhiệm hình sự, xin cho bị cáo H được hưởng án treo. Sau đó, chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cung cấp biên nhận đã nhận số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo tự nguyện khắc phục thêm cho gia đình bị hại V. Ngoài ra, anh T là đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp bị hại M cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cung cấp biên nhận số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo H tự nguyện khắc phục thêm cho gia đình bị hại M. Tuy nhiên xét thấy, hành vi bị cáo gây ra hậu quả rất nghiêm trọng làm chết hai người, gây đau thương mất mát cho 02 gia đình bị hại. Trước lần phạm tội này, bị cáo đã bị xử phạt hành chính 700.000 đồng (chưa được xóa) về hành vi “chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ”. Hành vi của bị cáo thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thanh H và đại diện hợp pháp bị hại V: chị Đinh Thị Mỹ Th, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh H.
Người bào chữa cho bị cáo H thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và bị cáo đã tự nguyện khắc phục thêm cho gia đình hai bị hại m i gia đình 5.000.000 đồng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NH N ĐỊNH CỦA T A N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Thanh H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Ngày 05/6/2013, Phan Thanh H có giấy phép lái xe hạng E điều khiển xe ô tô khách biển số 61B-016.0x đi từ tỉnh Bình Dương về huyện C, tỉnh An Giang. Khi đến đoạn đường thuộc xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo chạy lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của xe, va chạm với xe mô tô mang biển số 66K2-834x do anh Lê Hoàng V điều khiển đi ngược chiều, phía sau có chở chị Võ Thị Tuyết M, gây tai nạn làm anh V và chị M tử vong tại ch . Sau khi phát hiện chị M và anh V tử vong, H đến Công an xã M đầu thú.
[2] Đối với hành vi của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét thấy, hành vi của bị cáo Phan Thanh H là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo đã điều khiển xe ô tô lấn trái đường gây tai nạn làm anh V và chị M tử vong, đã trực tiếp xâm phạm tính mạng 02 bị hại, dẫn đến sự mất mát to lớn cho gia đình các bị hại. Hành vi của bị cáo H đã vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Mặc dù trước đó, ngày 17/8/2017 bị cáo đã bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính về hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ nhưng bị cáo không sửa chữa mà tiếp tục vi phạm với hành vi gây hậu quả nghiêm trọng hơn.
[4] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, thiệt hại đã được bị cáo bồi thường xong. Sau khi án sơ thẩm tuyên bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; đại diện hợp pháp của bị hại V: chị Định Thị Mỹ Th cũng có đơn kháng cáo xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo hoặc xin cho bị cáo được hưởng án treo. Sau đó, chị Đinh Thị Mỹ Th có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H và cung cấp biên nhận số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục thêm cho m i bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo gây ra hậu quả rất nghiêm trọng làm chết 02 người. Do đó, đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và xin miễn trách nhiệm hình sự của đại diện hợp pháp bị hại V là không có căn cứ xem xét. Ngoài ra, nhân thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính (chưa được xóa) lại tiếp tục vi phạm nên không thể cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thanh H và đại diện hợp pháp của bị hại V: chị Đinh Thị Mỹ Th, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh H. Đối với lời bào chữa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của Luật sư, Hội đồng xét xử không chấp nhận do các phân tích đã nêu trên.
[6] Do kháng cáo của bị cáo Phan Thanh H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Đại diện hợp pháp bị hại V: chị Đình Thị Mỹ Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Thanh H và không chấp nhận kháng cáo xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo H hoặc cho bị cáo H được hưởng án treo của đại diện hợp pháp bị hại Lê Hoàng V: chị Đinh Thị Mỹ Th. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Phan Thanh H.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 và khoản 5 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh H 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Phan Thanh H đi chấp hành hình phạt, trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2017 đến ngày 03/11/2017.
Về án phí: Bị cáo Phan Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm, chị Đinh Thị Mỹ Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nh n:
| - TANDTC (Vụ GĐKT1-Vụ 1); - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh (01 bản); - TA-VKS-THADS huyện L; - Cơ quan CSĐT Công an huyện L; - Bị cáo; - ĐDHP, NBC; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA.TA Tỉnh; - Lưu: VT, HSVA (Trúc). | TM. HỘI ĐỒNG T PHÚC TH M TH M H N – CHỦ T A HI N T A Trần Trung Thành |