- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Mỹ N - Trần Vũ T"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Mỹ N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 100/2018/HNGĐ - ST Ngày: 02 - 11 - 2018. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Việt Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Nhi.
Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Chấm - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2018/TLST - HNGĐ, ngày 01/6/2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2018/QĐXXST - HNGĐ, ngày 21/9/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Mỹ N, sinh năm 1998 (có mặt).
Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn: Anh Trần Vũ T, sinh năm 1984 (vắng mặt không lý do).
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ngày 01/6/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ N trình bày: Chị và anh Trần Vũ T kết hôn do quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 29/3/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh T hay ghen tuông, vợ chồng thường hay cự cãi nhau, đến đầu năm 2018 thì sống ly thân cho đến nay, thời gian ly thân không có hàn gắn đoàn tụ. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T. Con chung Trần Duy T1, sinh ngày 01/7/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 750.000 đồng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Tài sản chung và nợ chung không có.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Vũ T trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống giống như lời trình bày của chị N. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh quá thương vợ nên có hỏi thăm, xem điện thoại của vợ và hỏi vợ về những số điện thoại lạ là của ai thì chị N không tin tưởng anh và bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, anh có năn nỉ nhưng chị N không về đoàn tụ. Nay anh còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn. Về con chung giống như lời trình bày của chị N, nếu ly hôn anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có.
Tại phiên tòa bà Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn còn vắng mặt trong các lần Tòa án mời tham gia phiên tòa xét xử. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Hồ Thị Mỹ N được ly hôn với anh Trần Vũ T; về con chung anh T trực tiếp nuôi cháu Trần Duy T1, sinh ngày 01/7/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, chị N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu; tài sản chung và nợ chung chị N, anh T trình bày không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn anh Trần Vũ T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Vũ T.
Về quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Mỹ N và anh Trần Vũ T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị N và anh T kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 29/3/2016, quá trình kết hôn của anh chị tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc khoảng thời gian không dài thì phát sinh mâu thuẫn dẫn đến phải sống ly thân, nguyên nhân là do anh chị không tin tưởng vào sự chung thủy giữa vợ chồng, nghi ngờ tình cảm lẫn nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, thời gian ly thân anh chị cũng không hàn gắn được tình cảm, mặc dù anh T có nguyện vọng đoàn tụ nhưng anh không đưa ra được giải pháp nào có tính thuyết phục được sự đồng ý của chị N, tại phiên tòa chị N vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh T. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ xác định mâu thuẫn tình cảm giữa anh chị là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị N và anh T có một con chung tên Trần Duy T1, sinh ngày 01/7/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, khi ly hôn cả hai anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng tuy hiện nay cháu T1 chưa đủ 36 tháng tuổi nhưng từ khi chị N và anh T sống ly thân thì anh T là người trực tiếp nuôi cháu T1 nên cháu T1 nên có tình cảm khăng khít với cha hơn, đồng thời để bảo đảm ổn định cho cuộc sống của cháu T1 nên cần để cho anh T được tiếp tục nuôi con là phù hợp, do anh T không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của anh nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị N.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Chị Hồ Thị Mỹ N phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xét về quan điểm giải quyết vụ án của bà Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị Mỹ N.
Chị Hồ Thị Mỹ N được ly hôn với anh Trần Vũ T.
[2] Về con chung:Anh Trần Vũ T trực tiếp nuôi cháu Trần Duy T1, sinh ngày 01/7/2017 hiện nay đang sống chung với anh T, chị Hồ Thị Mỹ N không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
[4] Về nghĩa vụ nộp án phí: Án phí ly hôn chị Hồ Thị Mỹ N phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 000xxxx, ngày 01/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.
[5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[6] Về việc thi hành bản án khi có hiệu lực pháp luật: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng KTNV và THA) (1b); - VKSND huyện M (2b); - Chi cục THADS huyện M (1b); - UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (ĐKKH số xx, ngày 29/3/2016) (1b); - Các đương sự (2b); - Lưu: HS, VT (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Việt Thiện |