vanban.org

Bản án 10 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

X: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ksor H, cụ thể

Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ksor H và anh Nông Văn C. Về nuôi con chung: Giao cho chị Ksor H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Nông Ksor Mạnh H1, sinh ngày 14/01/2018 và Nông Ksor Thiên N, sinh ngày 27 01 2020 khi con chưa thành niên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con BCuong"
  • Tòa quyết gì? X: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ksor H, cụ thể
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật T tụng dân sự
T A ÁN NH N N
HUYỆN IA PA
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 10 2024 HNGĐ-ST
Ngày 30-10-2024
“Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NH N N HUYỆN IA PA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nay Phen.

2- Bà Trịnh Thị Thanh Hồng .

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Quang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý s : 48/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 13 2024 QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ksor H, năm sinh 1992; Địa chỉ: Plơi A Ơi H, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nông Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI UNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ksor H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nông Văn C chung s ng với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 22 5 2017 tại UBND xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung s ng hạnh phúc cho đến kho ng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng hay cãi nhau; anh C thường hay rượu chè, vợ nói thì đánh đập, chửi bới, xúc phạm. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm s ng, anh C không có trách nhiệm của một người chồng, người cha. Vợ chồng đã c gắng hòa gi i nhưng vẫn không thành. Đến nay, vợ chồng không còn tình c m, đời s ng chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và hai vợ chồng đã s ng ly thân với nhau từ cu i năm 2021 cho đến nay, mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa, có tiếp tục chung s ng cũng không mang lại hạnh phúc nên chị yêu cầu Tòa án gi i quyết cho chị ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị và anh Nông Văn C có 02 con chung là Nông Ksor Mạnh H1, sinh ngày 14/01/2018 và Nông Ksor Thiên N, sinh ngày 27 01 2020 hiện đang s ng với chị. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị sẽ nuôi c 02 con vì chị là người trực tiếp nuôi hai con từ khi con sinh ra cho đến nay; hiện nay chị đang làm công chức tư pháp tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai, thu nhập ổn định hàng tháng là 9.044.100đ (Chín triệu không trăm b n mươi b n nghìn một trăm đồng) tháng, chị còn chăn nuôi bò và làm ruộng, rẫy, có nhà ở và đất ở, đất nông nghiệp riêng ở địa phương nên chị có đủ điều kiện kinh tế t t để nuôi dưỡng c hai con. Ngoài ra chị đang chung s ng cùng cha mẹ chị, hàng ngày còn được cha mẹ chị hỗ trợ việc trông nom, chăm sóc con nên chị có đủ điều kiện để nuôi c 02 con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài s n chung và nghĩa vụ chung về tài s n: Chị không yêu cầu Tòa án gi i quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Nông Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H có đăng ký kết hôn năm 2017 như chị H trình bày là đúng sự thật. Quá trình s ng chung vợ chồng thường xuyên x y ra mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng quan điểm vì không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến không còn hạnh phúc. Từ những mâu thuẫn trên nên c hai vợ chồng đã s ng ly thân từ cu i năm 2021 cho đến nay. Nay vợ chồng không thể hàn gắn nên anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Nông Ksor Mạnh H1, sinh ngày 14/01/2018 và Nông Ksor Thiên N, sinh ngày 27 01 2020. C hai con hiện đang s ng với chị H. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là Nông Ksor Mạnh H1, còn đ i với con chung là Nông Ksor Thiên N giao cho chị Ksor H nuôi dưỡng. Hiện nay anh đang làm công chức của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Gia Lai, thu nhập ổn định hàng tháng là 9.084.747đ (chín triệu không trăm tám mươi tư nghìn b y trăm b n mươi b y đồng) tháng. Ngoài ra anh cũng đang ở nhà của cha mẹ tại xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai, nếu anh nuôi con thì anh cũng sẽ được cha mẹ anh hỗ trợ việc trông nom, chăm sóc con nên anh có đủ điều kiện để nuôi con. Tuy nhiên hiện nay cha mẹ anh đang ở tỉnh Cao Bằng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị H không ph i cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài s n chung và nghĩa vụ chung về tài s n: Anh không yêu cầu Tòa án gi i quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa phát biểu ý kiến:

Về t tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật T tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật T tụng dân sự.

Về phần nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 55, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; kho n 4 Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết s 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ksor H; tuyên ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Ksor H và anh Nông Văn C. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nông Ksor Mạnh H1 sinh ngày 14/01/2018 và Nông Ksor Thiên N sinh này 27 01 2020 cho chị B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có kh năng lao động và không có tài s n để tự nuôi mình. Về cấp dưỡng nuôi con, tài s n và nghĩa vụ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án gi i quyết nên không xem xét, gi i quyết. Về án phí: Các đương sự ph i chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn chị Ksor H yêu cầu ly hôn và có tranh chấp về nuôi con chung với anh Nông Văn C hiện đang cư trú tại Thôn B, xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại kho n 1 Điều 28, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm a kho n 1 Điều 39 của Bộ luật T tụng dân sự, đây là vụ án về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ksor H và anh Nông Văn C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 22 5 2017 tại UBND xã C, huyện I, tỉnh Gia Lai theo đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung s ng, chị H và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn tin tưởng, yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên chị H yêu cầu Tòa án gi i quyết cho ly hôn với anh C và anh C đồng ý ly hôn. Qua xác minh tình trạng mâu thuẫn giữa chị H và anh C tại địa phương nơi anh chị sinh s ng, kết qu thể hiện giữa chị H và anh C có tồn tại mâu thuẫn. Anh chị đã tự hòa gi i nhiều lần nhưng không thể hàn gắn. Hiện tại, chị H và anh C đã s ng ly thân.

Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa gi i, phân tích hậu qu của việc ly hôn, động viên các bên hàn gắn để tiếp tục chung s ng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời s ng chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H và anh C tự nguyện ly hôn nên cần ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị H với anh C.

[3] Về nuôi con chung: Chị H và anh C có 02 con chung là Nông Ksor Mạnh H1, sinh ngày 14/01/2018 và Nông Ksor Thiên N, sinh ngày 27 01 2020. C hai con hiện đang s ng với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi c hai con; anh C có nguyện vọng được nuôi con Nông Ksor Mạnh H1 và các bên không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Xét điều kiện thực tế, chị H và anh C đều có công việc ổn định và thu nhập tương đương nhau. Tuy nhiên, từ khi con được sinh ra đến nay, chị H là người gần gũi, gắn bó thân thiết và trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con; thỉnh tho ng anh C mới đến thăm con; toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của c hai con là do một mình chị H chi tr . Các con đều được chị H chăm lo ăn học đầy đủ, phát triển khỏe mạnh, được nhà trường xác nhận. Trong thời gian s ng ly thân từ năm 2021 cho đến nay, anh C không trực tiếp, không thường xuyên thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con.

Ngoài ra, chị H còn có nhà ở, đất ở và đất nông nghiệp ở địa phương nơi cư trú nên chị H đ m b o điều kiện kinh tế hơn để nuôi dưỡng c hai con chung.

Như vậy, để b o đ m sự ổn định tâm lý và tình c m của con, hạn chế sự xáo trộn môi trường s ng, giáo dục của con, xem xét quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao c hai con Nông Ksor Mạnh H1 và Nông Ksor Thiên N cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế theo đúng quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự đã được gi i thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của người trực tiếp nuôi con nhưng chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài s n chung và nghĩa vụ chung về tài s n: Chị H và anh C không yêu cầu Tòa án gi i quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Do các bên đương sự tự nguyện ly hôn trước khi mở phiên toà nên các đương sự chỉ ph i chịu 50% mức án phí quy định đ i với yêu cầu xin ly hôn (mỗi bên ph i chịu 25% mức án phí quy định). Chị Ksor H tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ kho n 1 Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ kho n 1 Điều 28, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm a kho n 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, kho n 4 Điều 147, kho n 1 Điều 235, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật T tụng dân sự;

Căn cứ điểm a kho n 5 Điều 27 của Nghị quyết s 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

X: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ksor H, cụ thể

như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ksor H và anh Nông Văn C.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Ksor H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Nông Ksor Mạnh H1, sinh ngày 14/01/2018 và Nông Ksor Thiên N, sinh ngày 27 01 2020 khi con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có kh năng lao động và không có tài s n để tự nuôi mình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét gi i quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được s ng chung với người trực tiếp nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được c n trở.

Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để c n trở hoặc gây nh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi việc cấp dưỡng.

4. Về án phí: Do các bên đương sự tự nguyện ly hôn trước khi mở phiên toà nên các đương sự chỉ ph i chịu 50% mức án phí quy định đ i với yêu cầu xin ly hôn (mỗi bên ph i chịu 25% mức án phí quy định). Án phí dân sự sơ thẩm là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng), chị Ksor H tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. S tiền này được trừ vào s tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s 0003785 ngày 03 tháng 06 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai. Hoàn tr lại cho chị Ksor H s tiền tạm ứng án phí chênh lệch là 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (30 10 2024), nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo b n án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ