vanban.org

Bản án 10

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. * Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Quốc N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 10/2023/HS-ST.
Ngaøy: 09-01-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lưu Thị Thôi

2. Ông Nguyễn Bính

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bạch Hoàng Hùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 265/2022/HSST ngày 08 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2022/HSST-QĐ ngày 27/12/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc N (tên gọi khác: Không có) - sinh ngày 04/02/1992, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 03, phường H, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Quốc Thái H, sinh năm 1973 và bà Ngô Thị Đàm V, sinh năm 1975; Vợ, con: chưa có; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 21 giờ ngày 10/02/2022, N đang đi ăn tối tại phường H, thành phố Phan Thiết thì gặp D (không rõ nhân thân) người quen ngoài xã hội. Lúc này, N nhờ D mua ma túy đá giùm, D đồng ý và hẹn N đến khu vực cổng chữ Y thuộc phường Đ, thành phố Phan Thiết lấy ma túy.

Khoảng 15 phút sau, N đến chỗ hẹn gặp D, D đưa cho N 01 cái khẩu trang, bên trong có 01 ống thủy tinh được thổi phòng một đầu, trong ống thủy tinh có ma túy đá và nói với N “dùng đỡ đi”. N nhận ma túy và đưa cho Dũng số tiền 200.000 đồng. Có được ma túy, N đi bộ đến nhà của Nguyễn Duy V (sinh năm 1991, trú tại khu phố 2, phường H, thành phố Phan Thiết) để rủ V cùng sử dụng. Khi đến nhà của V, thấy V và Nguyễn Văn G (sinh năm 2000, trú tại khu phố 2, phường H, thành phố Phan Thiết) ngủ nên N lấy 01 chai nước ngọt có vỏ và nắp bằng nhựa để làm dụng cụ sử dụng ma túy đá, N lấy ma túy vừa mua được ra ngồi sử dụng, một lúc sau thì G ngủ dậy, thấy N đang sử dụng ma túy nên G đến cùng sử dụng ma túy thì cùng lúc này Công an phường H đến kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 chai nước ngọt bằng nhựa nhãn hiệu MIRINDA, thể tích 39ml, bên trong chứa nước trắng, trên nắp chai bằng nhựa màu trắng có đục 02 lỗ, một lỗ có cắm ống hút màu đỏ, một lỗ có cắm 01 ống thủy tinh đã bị uốn cong và thổi phòng, tại vị trí bị thổi phòng của ống thủy tinh có chứa chất rắn màu vàng nhạt và đưa N về trụ sở làm việc, tại đây N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng của vụ án:

01 chai nước ngọt bằng nhựa nhãn hiệu MIRINDA, thể tích 39ml, bên trong chứa nước trắng, trên nắp chai bằng nhựa màu trắng có đục 02 lỗ, một lỗ có cắm ống hút màu đỏ, một lỗ có cắm 01 ống thủy tinh đã bị uốn cong và thổi phòng, tại vị trí bị thổi phòng của ống thủy tinh có chứa chất rắn màu vàng nhạt (Ký hiệu M khi giám định).

Tại Kết luận giám định số 224/KL-PC09 ngày 09/03/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1688 gam; là Methamphetamine

Xử lý vật chứng:

01 ống thủy tinh đã được uốn cong và thổi phồng một đầu cùng 0,1445 gam mẫu M được niêm phong trong phong bì số 224. Viện kiểm sát thành phố Phan Thiết ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.

Tại các lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản ghi lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra đều thể hiện bị cáo N có hành vi tàng trữ trái phép 0,1688 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Với hành vi nêu trên, ngày 30/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra bản cáo trạng số 264/CT-VKS truy tố bị cáo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu lời luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép 0,1688 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đề nghị xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì bị cáo N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo N từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 224 ngày 09/3/2022, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Thiết, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ ngày 10/02/2022, tại nhà của Nguyễn Duy V thuộc khu phố 2, phường H, thành phố Phan Thiết. Nguyễn Quốc N có hành vi cất giữ trái phép 0,1688 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi và thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó Cáo trạng số 264/CT-VKS ngày 30/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

N biết Methaphetamine là loại ma túy nằm trong danh mục nhà nước độc quyền quản lý, N cấm tàng trữ trái phép vì hậu quả nguy hại của nó đối với sức khỏe con người và trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi này không những xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử phạt một mức án tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì được niêm phong số 224/KLGĐ-PC09 ngày 09/3/2022, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Văn G, không biết N tàng trữ trái phép ma túy nên không xem xét xử lý hình sự đồng phạm với N là có cơ sở.

Đối với Nguyễn Duy V không biết N đem ma túy vào nhà mình sử dụng nên không xem xét xử lý hình sự là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong số 224/KLGĐ-PC09 ngày 09/3/2022, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bình Thuận.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 76 ngày 15/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).

* Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc N nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo; Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/01/2023). Nôi nhaän:

Cỡ chữ