- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thành L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ H ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/20209/HS-ST Ngày 21/ 02/ 2020; |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu T
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn C;
Ông Đặng Văn T2;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Q, Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thạch Thất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hồng C1 - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm C1 khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08 /2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L, sinh năm 1965 tại xã S, huyện Qi, Thành phố H; nơi cư trú: Thôn Sài Khê, xã S, huyện Q, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1933; con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1942; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 và 02 con lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1994;Tiền án:Không; tiền sự: không; nhân thân:Ngày 12/6/1993, Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố H xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, hạn thửa thách 18 tháng; năm 2009 bị UBND huyện Q xử phạt vi phạm hành chính bắt buộc cai nghiện; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 23/10/2019 đến nay tại Trại tạm giam số 1, C1 an thành phố H. Danh chỉ bản số 304 do C1 an huyện Thạch Thất lập ngày 24/10/2019. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn C1 V, sinh năm 1961; vắng mặt;
Nơi cư trú: Thôn 4, xã C, huyện T, thành phố H
2. Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1983; vắng mặt;
Nơi cư trú: Nhà N01 – Chung cư L– C L, quận Đ, thành phố H;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 23/10/2019, Nguyễn Thành L, sinh năm 1965, HKTT tại: Thôn Sài Khê, xã S, huyện Qi, Thành phố H, khiển xe mô tô BKS 29D1-215.74 đi đến thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng thì Nguyễn C1 V, sinh năm 1961; trú tại: Thôn 4, xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, thành phố H sử dụng điện thoại có số 0966158207 gọi đến số điện thoại 0865989534 của Nguyễn Thành L để hỏi mua 04 gói ma túy loại Heroin, L đồng ý và đi mua được 04 gói nhỏ ma túy với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ ở khu vực Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố H. Sau đó, L đi đến quán cà phê Yên ở thôn 5, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố H để giao ma túy cho V và nhận 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng), đến nơi L chưa kịp giao ma túy cho V thì bị lực lượng C1 an huyện Thạch Thất, thành phố H kiểm tra phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của V đang cầm 01 gói nilon bên trong có 04 gói ma túy ma túy bao gồm 03 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng và 01 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng.
Vật chứng thu giữ và niêm phong gồm:
- 01 túi nilon kích thước (06 x5), bên trong có 03 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng và 01 gói được gói bằng giấy bạc màu trắng.
- 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia, số imel 354185101503606 trong có sim điện thoại số 0865989534.
Tại bản kết luận giám định số 6764/KLGĐ – PC09 ngày 01/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - C1 an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 04 gói giấy bạc (01gói giấy bạc màu trắng, 03 gói giấy bạc màu vàng) trong phòng bì ký hiệu A1 là ma túy loại Heroin, khối lượng là 0,350gam.
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về kết luận giám định và các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 08/CT -VKSTT ngày 04 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố H truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử:Áp dụng khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Thành L 30 - 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là 04 gói bằng giấy bạc trong phòng bì ký hiệu A1 là ma túy loại Heroin, khối lượng là 0,350gam.
Đối với chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia, số imel 354185101503606 trong có sim điện thoại số 0865989534 bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C1 an huyện Thạch Thất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Nguyễn Thành L là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 23/10/2019, Nguyễn Thành L, sinh năm 1965, HKTT tại: Thôn Sài Khê, xã S, huyện Qi, Thành phố H, khiển xe mô tô BKS 29D1-215.74 đi đến thị trấn Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố H mua 04 gói ma túy loại Heroin với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Sau đó, L đi đến quán cà phê Yên, ở thôn 5, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố H để bán ma túy cho Nguyễn C1 V, sinh năm 1961 ở thôn 4, xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, thành phố H thì bị C1 an huyện Thạch Thất bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 04 gói nhỏ ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,350gam; tại thời điểm phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố H truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự, an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Năm 1993 bị Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố H xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; năm 2009 bị UBND huyện Q xử phạt vi phạm hành chính bắt buộc cai nghiện. Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã bị kết án và bị bắt buộc cai nghiện bắt buộc, nay lại thực hiện hành vi phạm tội về ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng…” do vậy, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là người lao động tự do, bị cáo mua bán ma túy mục đích để sử dụng nên miễn áp dụng phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 gói niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa chất bột màu trắng là chất ma túy loại Heroin, khối lượng 0,350 gam, bên ngoài có chữ ký niêm phong của bị cáo và chữ ký của giám định viên là chất ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại Nokia thu giữ của bị cáo là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
. Đối với Nguyễn C1 V có hành vi tìm mua ma túy để sử dụng, tuy nhiên V chưa thực hiện được nên chưa đủ căn cứ để xử lý về hình sự đối với V, cơ quan Điều tra không xử lý là có căn cứ.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Thành L 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/10/2019.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa chất bột màu trắng là chất ma túy loại Heroin, khối lượng 0,350 gam, bên ngoài có chữ ký niêm phong của Nguyễn Thành L và chữ ký của giám định viên Lê Khắc Nam, Cấn Xuân Hưng.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số imei 3541851011503606, trong điện thoại có sim số 0865989534.
(Theo biên bản bàn giao vật chứng số 20/2020/THA ngày 11/02/2020 giữa C1 an huyện Thạch Thất và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;
Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố H; - CA, VKSND, THA huyện T; - Bị cáo; - UBND xã S, Q; - Lưu HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu T |