vanban.org

Bản án 10/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 14/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/10/2019. 2,Về vật chứng: - Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? 1, Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10 /2020/HSST
Ngày 14/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Hồng Lễ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Chỉnh.

Ông Hoàng Văn Hoạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hứa Thị Hồng - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 14/02/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2020/HSST ngày 02/01/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/QĐXXST- HS, ngày 31/01/2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K - Sinh ngày 16/12/1989, tại Phú Thọ;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu x, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không ; quốc tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Phạm Thị D và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 09/10/2019 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

Triệu Văn T – Sinh năm 1986;

Trú tại: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 09/10/2019 phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Kạn nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có một đối tượng nam giới khoảng 30 tuổi, là công nhân đang làm tại công trình Vincom Bắc Kạn có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Kạn đã đến công trình xây dựng Vincom thuộc tổ x, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện tại cổng phụ ra vào công trình có một đối tượng nam giới có đặc điểm giống với nguồn tin báo. Khi phát hiện tổ công tác thì đối tượng trên bỏ chạy, tổ công tác đã kịp thời khống chế được và đưa về trụ sở Công an phường Đ để kiểm tra. Qua kiểm tra, đối tượng khai tên là Nguyễn Văn K, hiện đang là công nhân xử lý chống thấm công trình Vincom Bắc Kạn, thu giữ tại túi áo bên trái đang mặc của Nguyễn Văn K được 01 gói nhỏ được gói bằng nilon trong suốt, bên trong được gói bằng hai lớp giấy có dòng kẻ có chứa chất bột màu trắng có trọng lượng 0,17 gam (Mẫu gửi giám định C1). Tạm giữ của Nguyễn Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng bên trong có gắn 01 sim số thuê bao 0917.032.xxx và số tiền 390.000đ (Ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra Nguyễn Văn K khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy, nên ngày 08/10/2019 K từ nhà thuộc xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ bắt xe ôm đến thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tìm mua với một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ được 01 gói ma túy (hêrôin) với số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, K tiếp tục lên Bắc Kạn và đã trích gói ma túy ra sử dụng hai lần cho bản thân, phần còn lại K vẫn cất giấu trong người với mục đích vừa để sử dụng vừa để bán, cụ thể được bán trái phép chất ma túy cho anh Triệu Văn T 01 lần như sau:

Khoảng hơn 09 giờ ngày 09/10/2019, K nhận được điện thoại của Triệu Văn T gọi điện vào số thuê bao 0917.032.xxx của mình là để hỏi mua ma tuý với số tiền 390.000đ (Ba trăm chín mươi nghìn đồng), K đồng ý bán và hẹn ra khu vực cổng phụ của công trình xây dựng Vincom thuộc tổ x, phường Đ, thành phố Bắc Kạn để gặp nhau. K nhặt một vỏ bao thuốc lá Thăng long ở chỗ làm việc và xé một mảnh giấy bạc rồi lấy gói ma túy đang cất giấu trên người ra chia một phần ma túy ra gói giấy bạc mang ra chỗ hẹn bán cho T, phần ma túy còn lại K cất giấu trong túi áo bên trái đang mặc. Sau đó K đi bộ ra chỗ hẹn gặp T. Tại đây T đưa cho K số tiền 390.000đ (Ba trăm chín mươi nghìn đồng). K cầm lấy tiền rồi trực tiếp đưa cho T 01 gói ma túy. Sau khi trao đổi mua bán ma túy xong, K tiếp tục đi vào công trình xây dựng Vincom làm việc đến 11 giờ 30 phút thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng số ma túy còn lại và số tiền vừa bán ma túy có được.

Tại bản Kết luận giám định số 146/KTHS-MT ngày 16/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng là: 0,17g (Không phẩy một bảy gam).

Lời khai của Nguyễn Văn K phù hợp với lời khai của Triệu Văn T và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác.

Với các hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSTPBK, ngày 02/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251/BLHS.

Điều luật có nội dung:

1, Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù 02 năm đến 07 năm.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn vẫn giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/10/2019.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì ký hiệu T146 và C2 còn nguyên dấu niêm phong.

Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim và số tiền 390.000đ (Ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.

Quá trình tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và bị cáo nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 09/10/2019 tại tổ x, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, Nguyễn Văn K đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Triệu Văn T, thu lời bất chính số tiền 390.000đ (Ba trăm chín mươi nghìn đồng). Hành vi của Nguyễn Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tổng hợp các chứng cứ lại, đánh giá diễn biến khách quan của vụ án thấy việc truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự thú” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51/BLHS. Mặt khác bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn H được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương cao quý, vì vậy khi lượng hình được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51/BLHS.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì và không có nguồn thu nhập nào ổn định, khi áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền thì không có tính khả thi. Vì vậy không áp dụng đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy những vật không có giá trị sử dụng gồm: 02 phong bì ký hiệu T146 và C2 còn nguyên dấu niêm phong.

Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim và số tiền 390.000đ (Ba trăm chín mươi nghìn đồng) là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và số tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có.

(Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập: Các hành vi, quyết định tố tụng và các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn K, do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể của người này, nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xử lý. Trong vụ án còn có Triệu Văn T là người đã mua ma túy với bị cáo K để sử dụng, nhưng hành vi của Triệu Văn T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an nơi cư trú để xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1, Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/ BLHS.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/10/2019.

2,Về vật chứng: - Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS.

+ Tịch thu tiêu hủy những vật không có giá trị sử dụng gồm: 02 phong bì ký hiệu T146 và C2 còn nguyên dấu niêm phong.

+ Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen đã qua sử dụng, bên trong có 01 sim điện thoại số thuê bao 0917032xxx là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 390.000đ (Ba trăm chín mươi nghìn đồng) là số tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có.

(Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn ngày 10/01/2020 và ngày 13/01/2020).

3, Về án phí: - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ