- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phá A D bị truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2020/HS-ST Ngày 18/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quàng Văn Hòa.
2. Ông Tòng Văn Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sóng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Vàng A Vừ, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phá A D (tên gọi khác: Phá Tùng D), sinh năm 1966 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm nương; trình độ văn hóa: không học; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phá Giống S ( đã chết) và bà Sùng Thị L (đã chết); có vợ Lầu Thị S (đã chết) và có 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án: không; tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ ngày 13/5/2020 đến 16/5/2020 sau đó tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Người phiên dịch: Anh Tráng A S, sinh năm 1996. Trú tại tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ ngày 12/5/2020, tại nhà ở của Phá A D ở bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Phá A D đưa cho con trai Phá A L 800.000đ nhờ đi mua hộ ma túy. Phá A L nhận tiền đi mua ma túy ở đâu D không biết, đến trưa cùng ngày mang về đưa cho D một cục Heroine. Sau khi nhận ma túy, D chia thành nhiều gói nhỏ, gói bằng nilon màu hồng cho vào hai lọ nhựa màu xanh và màu trắng. Phá A D cất lọ nhựa màu xanh dưới đầu giường ngủ của D, còn lọ nhựa màu trắng D cất vào chiếc túi vải sọc trắng đen đeo trên người. Mục đích để sử dụng và bán lẻ. D đã bán cho nhiều người cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ ngày 12/5/2020, Phá A D bán cho Giàng Bua L trú tại bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên một gói Heroine giá 50.000đ tại nhà ở của D.
Lần thứ hai: Vào khoảng 17 giờ ngày 12/5/2020, Phá A D bán cho Ly Thị T trú tại bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên một gói Heroine giá 50.000đ tại nhà ở của D.
Lần thứ ba: Vào khoảng 8 giờ ngày 13/5/2020, Phá A D bán cho Giàng Thị M trú tại bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên một gói Heroine giá 50.000đ tại nhà ở của D.
Lần thứ Tư: Vào khoảng 9 giờ ngày 13/5/2020, Phá A D bán cho Ly Thị T trú tại bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên nửa gói Heroine giá 20.000đ tại nhà ở của D.
Lần thứ năm: Vào khoảng 13 giờ ngày 13/5/2020, Phá A D bán cho Lò Văn Q trú tại bản T, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên một gói rưỡi Heroine giá 70.000đ tại nhà ở của D.
Sau khi bán ma túy cho Q xong thì tổ công tác công an huyện Đ đến nhà D tuyên truyền vận động, Phá A D đã giao nộp hai lọ nhựa đựng 52 gói nhỏ Heroine; 220.000đ đựng trong túi vải trắng đen.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy ngày 13/5/2020 xác định: tổng số chất bột trắng thu giữ của Phá A D có khối lượng là 3,33g trích 0,28 gam gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số: 421/GĐ-PC09 ngày 21/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột trắng gửi giám định thu giữ của Phá A D là Heroine, đây là chất ma túy thuộc danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã điều tra, làm rõ những người đã mua ma túy của Phá A D và những người này đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức cảnh cáo. Riêng đối với Phá A L con trai của Phá A D, theo lời khai của Phá A D là người đi mua hộ ma túy cho D hiện không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được.
Cáo trạng số: 67/CT-VKS-ĐBĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Phá A D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ
nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phá A D cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phá A D từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù; áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy 3,05 gam Heroine còn lại sau giám định, 02 hộp nhựa và 01 túi vải sọc đen trắng. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 220.000đ; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì
với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét về hành vi của bị cáo Phá A D thấy rằng: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ là 3,33gam Heroine; 220.000đ là số tiền do bị cáo bán trái phép chất ma túy mà có và các lời khai của những người đã mua ma túy của bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mục đích tàng trữ số ma túy trên là để sử dụng và bán lẻ kiếm lời và thực tế từ ngày 12/5/2020 đến ngày 13/5/2020 bị cáo đã 05 lần bán trái phép chất ma túy cho những đối tượng nghiện ma túy là Giàng Bua L, Ly Thị T ( mua hai lần), Giàng Thị M và Lò Văn Q mỗi lần bán trái phép chất ma túy đã đủ yếu tố cấu thành một lần phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phá A D là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý mua sử dụng và bán lẻ đã xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Với hành vi mua bán 05 lần trái phép chất ma túy như phân tích và số Heroine còn lại bị thu giữ là 3,33 gam nên Viện kiểm sát nhân nhân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
b) Phạm tội 02 lần trở lên.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo sinh ra trong gia đình thuần nông, cuộc sống khó khăn nên không được đi học, lớn lên xây dựng gia đình riêng. Hiện nay vợ mất một mình nuôi 05 con nhưng vì suy nghĩ lệch lạc sử dụng ma túy để chữa bệnh dẫn đến nghiện và từ nghiện dẫn đến mua tàng trữ sử dụng rồi bán lẻ kiếm lợi nhuận nên phạm tội như ngày hôm nay. Bị cáo Phá A D phải chịu trách nhiệm cho hành vi mình đã thực hiện.
Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra
khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục đồng thời để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên căn cứ tính chất của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân đã phân tích trên nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt thấp hơn đề xuất của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy hoàn cảnh bản thân bị cáo nghiện chất ma túy, không có tài sản gì, kinh tế gia đình phụ thuộc nông nghiệp nên khó có đ điều kiện để thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về vật chứng vụ án:
3,05 gam Heroine còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm tàng trữ, lưu
hành; 01 lọ nhựa màu trắng; 01 lọ nhựa màu xanh và 01 túi vải sọc trắng đen dùng để cất giấu chất ma túy không còn giá trị sử dụng. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo đã bán 05 lần trái phép chất
ma túy cho những đối tượng nghiện ma túy thu được tổng số tiền là 240.000đ. Bị cáo đã giao nộp 220.000đ, đây là số tiền do phạm tội mà có cần tịch thu ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 20.000đ bị cáo đã chi tiêu cá nhân nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ( dân tộc Mông), đang cư trú tại xã P, huyện Đ là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã điều tra rõ Giàng Bua L, Ly Thị T, Giàng Thị M đều trú tại bản H, xã P, huyện Đ và Lò Văn Q trú tại bản T, xã K, huyện Đ là những người đã mua ma túy của Phá A D số ma túy mua được đã sử dụng hết nên bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức cảnh cáo là phù hợp. Riêng đối với Phá A L con trai bị cáo Phá A D theo lời khai của D là người đi mua hộ ma túy cho D hiện không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được. Hội đồng xét xử cần chấp nhận không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b, c
khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a,b, c khoản 2 Điều 106; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phá A D (tên gọi khác: Phá Tùng D) phạm tội:“Mua
bán trái phép chất ma túy”: Xử phạt bị cáo Phá A D 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 13/5/2020).
2. Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 3,05gam Heroine (đã trừ giám định).
+ 01 lọ nhựa màu xanh và 01 lọ nhựa màu trắng.
+ 01 túi vải sọc trắng đen.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 220.000đ ( Hai trăm hai mươi
nghìn đồng).
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 20.000đ ( Hai mươi nghìn
đồng).
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 15/10/2020 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phá A D.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án (ngày 18/11/2020)./
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Phòng NVHS CA huyện Đ; - CCTHADS huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Nga |