vanban.org

Bản án 10/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2024 và năm 2025 đối với bị cáo Thân Ngọc S.

Tuyên bố bị cáo Thân Ngọc S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Thân Ngọc S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thân Ngọc S - Bị truy tố tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2024 và năm 2025 đối với bị cáo Thân Ngọc S.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2026/HSST
Ngày 28-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Tâm;

Ông Nguyễn Mai Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Thân Ngọc S, sinh năm 1993 tại Bắc Giang (nay là Bắc Ninh); nơi thường trú: tổ C, ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: cơ khí; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thân Văn S1 và bà Thân Thị V; bị cáo có vợ là bà Lê Thị N và 01 con; tiền án: không; tiền sự: Bị Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương áp dụng Quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời gian cai nghiện từ ngày 09/8/2024 đến ngày 09/8/2025; bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 15-9-2025 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thân Ngọc S là đối tượng đang Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 09/8/2024 của UBND xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh), thời hạn cai nghiện từ ngày 09/8/2024 đến ngày 09/8/2025. Ngày 25/7/2025, S điều khiển xe mô tô một mình đến lô cao su thuộc ấp A, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh để đi tìm hái nấm. Tại đây, S gặp bạn tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cũng đi hái nấm. Một lúc sau, S quay lại vị trí để xe mô tô để lấy nước uống, S thấy T đang sử dụng ma túy, T rủ và cho S sử dụng ma túy cùng T. Sau khi sử dụng ma túy xong, S và T đi về. Ngày 30/7/2025, S đến nơi ở của Nguyễn Trung T1, thuộc ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh ngồi chơi với T1. Lúc này, Công an xã P, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính nơi ở của T1. Trong quá trình làm việc, qua xét nghiệm nhanh chất ma túy thì phát hiện S và T1 dương tính với chất ma túy, Cơ quan Công an mời S và T1 về làm việc. Qua làm việc S đã khai nhận hành vi sử dụng ma túy của mình trong khi đang bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Kết luận giám định số 1977/KL-KTHS, ngày 08/8/2025, Phòng K Công an thành phố H kết luận: Mẫu nước tiểu của Thân Ngọc S, gửi giám định có thành phần ma túy, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ của Nguyễn Trung T1 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, không còn ma túy trong nỏ. Cơ quan điều tra xử lý bằng hình thức tịch thu tiêu hủy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đối với T1 nên không đề cập xử lý.

Cáo trạng số 62/CT–VKS ngày 28 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Thân Ngọc S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2024 và năm 2025 xử phạt bị cáo Thân Ngọc S mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến (hai) năm 03 (ba) tháng.

Đối với hành vi của Nguyễn Trung T1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng ma túy”. Ngày 03/10/2025, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Trung T1. Đối với đối tượng tên T (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch), Cơ quan điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Đối với đối tượng tên D, hiện chưa xác định được nhân thân, lại lịch của đối tượng D, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, luận tội của Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày lời sau cùng: bị cáo đã biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Do vậy, đã có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Thân Ngọc S là đối tượng đang Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 09/8/2024 của UBND xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh), thời hạn cai nghiện từ ngày 09/8/2024 đến ngày 09/8/2025. Tuy nhiên, Ngày 25/7/2025, tại lô cao su thuộc ấp A, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Thân Ngọc S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 30/7/2025, Công an xã P, Thành Phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính và qua xét nghiệm nhanh chất ma túy, kết quả bị cáo S dương tính với ma túy. Hành vi trên của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2024 và năm 2025.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là mầm mống phát sinh ra các tệ nạn xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc sử dụng trái phép các chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì ham muốn bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có 01 tiền sự: Bị Ủy ban nhân dân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương áp dụng Quyết định số 306/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, thời gian cai nghiện từ ngày 09/8/2024 đến ngày 09/8/2025.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi của Nguyễn Trung T1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng ma túy”. Ngày 03/10/2025, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Trung T1. Đối với đối tượng tên T (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch) và đối tượng tên D, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2024 và năm 2025 đối với bị cáo Thân Ngọc S.

Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 260, Điều 268, Điều 269 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Thân Ngọc S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thân Ngọc S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2025.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

Cỡ chữ