vanban.org

Bản án 10/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thái Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy số lượng ma túy và toàn bộ bao gói sau giám định đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số MT419/ĐỒN LAO BẢO có chữ ký của những người tham… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Thái Ngọc H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thái Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2026/HS - ST
Ngày 28 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Uyên Như và bà Lê Thị Tây Nguyên.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn T Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Thái Ngọc H, sinh ngày 04/9/1994 tại tỉnh Quảng Trị; số CCCD: 045094007603; nơi thường trú: Thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Xuân K (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không:

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Hướng Hóa thuộc Trại tạm giam số 01, Công an tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Thái Ngọc H: Ông Lê Quang H - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư LĐ. Địa chỉ: Số 331 Lê Duẩn, phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; nơi thường trú: Thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1990; nơi thường trú: Thôn D, xã L, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

+ Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1989; nơi thường trú: Thôn C, xã L, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

+ Ông Trần Nhơn P, sinh năm 1997; nơi thường trú: Thôn D, xã L, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

+ Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1994; nơi thường trú: Thôn C, xã L, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1994; nơi thường trú: Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2020, Thái Ngọc H đã liên hệ một số người (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua ma túy tổng hợp, dạng viên nén, thường gọi là hồng phiến để sử dụng và bán lại cho nhiều người để kiếm lời. Khoảng 21 giờ ngày 28/3/2025, H điều khiển xe môtô hai bánh, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đen, không gắn biển kiểm soát của mình đến khu vực cầu bê tông thôn Hà Lệt, xã Tân T, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn Hà Lệt, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị) tìm mua ma túy để bán kiếm lời và sử dụng. Tại đây, H gặp một người đàn ông (người dân tộc thiểu số, khoảng 25 tuổi, không rõ lai lịch, địa chỉ) đang đứng ở cầu và người này chủ động chào bán ma túy cho H. Sau đó, H mua 03 gói (khoảng 600 viên) ma túy tổng hợp (gồm 02 túi nilon màu xanh và 01 túi nilon màu hồng) của người đàn ông trên với giá 4.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H đưa về nhà, lấy khoảng 5 đến 7 viên ma túy trong 01 túi nilon màu xanh ra sử dụng hết, rồi lấy số ma túy mua các lần trước đó còn lại (không nhớ chính xác số lượng) cho vào 03 túi nilon để cùng số ma túy mới mua trên và cất toàn bộ vào ngăn tủ áo quần tại phòng ngủ của mình. Ngày 31/3/2025, H 04 lần bán ma tuý cho Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1990 và Trần Nhơn P, sinh năm 1997, cùng trú tại thôn Duy Tân, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, cụ thể:

- Lần thứ nhất và thứ hai: Khoảng 11 giờ và 11 giờ 30 phút ngày 31/3/2025, H 02 lần bán ma túy cho V (lần thứ nhất bán 10 viên ma túy, với giá 200.000 đồng; lần thứ hai bán 25 viên ma túy, với giá 400.000 đồng).

- Lần thứ ba và thứ tư: Khoảng 15 giờ và 19 giờ ngày 31/3/2025, H 02 lần bán ma túy cho P (lần thứ nhất bán 18 viên ma tuý, với giá 300.0000 đồng; lần thứ hai bán 35 viên ma túy, với giá 500.000 đồng).

Ngoài ra, H khai nhận nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Đức Đ, Lê Ngọc T, Nguyễn Ngọc V, Trần Nhơn P nhưng không nhớ rõ thời gian và số lượng ma túy đã bán.

Khoảng hơn 19 giờ ngày 31/3/2025, H lấy 01 túi nilon màu xanh chứa ma túy (trong số 03 gói ma túy đang cất giữ nêu trên) ra sử dụng hết 06 viên ma túy, rồi cất túi nilon màu xanh và số ma túy còn lại vào túi trước, phía trên, bên phải quần Jean đang mặc đi ra sân nhà, lấy xe mô tô chuẩn bị rời đi thì bị lực lượng chức năng bắt giữ, thu giữ số ma túy H đang cất giữ trên người và trong tủ tại phòng ngủ của H. Khi bị bắt, H khai nhận tất cả số ma túy trên H cất dấu nhằm mục đích bản kiếm lời và sử dụng.

Vật chứng tạm giữ gồm:

- Các viên nén hình trụ tròn màu hồng, 02 viên nén hình trụ tròn màu xanh. Sau khi tạm giữ, tiến hành niêm phong các viên nên trong 01 phong bì, ký hiệu MTQT.

- Các viên nén hình trụ tròn màu hồng; các viên nén hình trụ tròn màu xanh; 04 viên nén hình trụ tròn màu xanh. Sau khi tạm giữ, tiến hành niêm phong mẫu vật trong 01 hộp giấy, ký hiệu MTKX.

- 01 túi nilon màu xanh, dạng túi zip, kích thước (9,5 x 6,5)cm. Sau khi tạm giữ, tiến hành niêm phong mẫu vật trong 01 hộp giấy, ký hiệu BGQT.

- 02 túi nilon màu xanh, dạng túi zip, kích thước (9,5 x 6,5)cm; 01 túi nilon màu hồng, dạng túi zip, kích thước (9,5 x 6,5)cm; 02 sợi dây cao su màu đỏ. Sau khi tạm giữ, tiến hành niêm phong toàn bộ mẫu vật trong 01 hộp giấy, ký hiệu BGKX.

- 16 túi nilon, dạng túi zip, kích thước (9,5 x 6,5)cm, trong đó có 07 túi màu xanh và 09 túi màu hồng; 01 sợi dây cao su màu đỏ. Sau khi tạm giữ, tiến hành niêm phong toàn bộ mẫu vật trong 01 hộp giấy, ký hiệu TZIP.

- 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu xám, trên bề mặt lưng sau của máy có in dòng chữ SAMSUNG, bên trong máy gắn 01 thẻ sim có số thuê bao 0981754676. Sau khi tạm giữ, tiến hành niêm phong điện thoại trong 01 phong bì giấy, ký hiệu ĐT1.

- 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu vàng, trên bề mặt lưng sau của máy có in dòng chữ SAMSUNG, bên trong máy không gắn thẻ sim. Sau khi tạm giữ, tiến hành niêm phong điện thoại trong 01 phong bì giấy, ký hiệu ĐT2.

- Tiền giấy in hình đồng Việt Nam, tổng cộng 3.674.000 đồng. Khi tạm giữ được niêm phong trong 01 phong bì giấy niêm phong ký hiệu TIỀN.

- 01 cái ví da màu đen, đã qua sử dụng.

- 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn Đen, số máy: G3M5E325511, số khung: RLCUG1910RY014749, không gắn biển kiểm soát, xe đã qua sử dụng.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 74 003814, cấp ngày 09/10/2024, nơi cấp: Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- 01 biển kiểm soát 74AH-058.15 chất liệu kim loại, nền sơn trắng, chữ số sơn đen.

Tại Bản kết luận giám định số 419/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

Mẫu MTQT:

- Mẫu các viên nén màu hồng, hình trụ tròn gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 11,29g (Mười một phẩy hai chín gam).

- Mẫu 02 (hai) viên nén màu xanh, hình trụ tròn có khối lượng mẫu là 0,16g (Không phẩy mười sáu gam). Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp trong mẫu 02 (hai) viên nén màu xanh

- Mẫu MTKX:

Mẫu các viên nén màu hồng, hình trụ tròn, bên trong túi nilon ký hiệu “02” gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu là 36,88g (Ba sáu phẩy tám tám gam).

Mẫu 04 (bốn) viên nén màu xanh, hình trụ tròn, bên trong túi nilon ký hiệu “02” có khối lượng mẫu là 0,37 (Không phẩy ba bảy gam). Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp trong các viên nén màu xanh.

Mẫu 04 (bốn) viên nén màu xanh, hình trụ tròn, bên trong túi nilon ký hiệu “03” có khối lượng mẫu là 0,36 (Không phẩy ba sáu gam). Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp trong các viên nén màu xanh.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Bản kết luận giám định số 421/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

- Dấu vết đường vân (ký hiệu A) phát hiện trên bề mặt túi nilon màu xanh, dạng túi zip, kích thước (9,5 x 6,5)cm được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu TZIP gửi đến giám định đối với đường vân in ở ô giữa trái trên chỉ bản mẫu so sánh ghi tên Thái Ngọc H (sinh ngày 04/9/1994, nơi thường trú số nhà 48/12 đường Hoàng Hoa Thám, khóm Tân Kim, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị) (ký hiệu M) là đường vân của cùng một người in ra.

Bản cáo trạng số 07/CT-VKSQT-P1 ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Thái Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Thái Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thái Ngọc H từ 17 (Mười bảy) năm đến 18 (Mười tám) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy và toàn bộ bao gói sau giám định đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số MT419/ĐỒN LAO BẢO có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Trị; 10 túi nilon màu xanh dạng túi zip, kích thước (9,5 x 6,5)cm và 10 túi nilon màu hồng bên trên một mặt có in chữ A màu trắng, đã qua sử dụng; 03 sợi dây cao su màu đỏ; 01 thẻ sim có số thuê bao 0981.754.676, trên sim in số 89840048000007073298; 01 que test dùng để thử nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Thái Ngọc H; 01 cái ví da màu đen, đã qua sử dụng.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xám, trên bề mặt lưng sau của máy có in dòng chữ SAMSUNG, đã qua sử dụng; số tiền 3.674.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn Đen, số máy G3M5E325511, số khung RLCUG1910RY014749, không gắn Biển kiểm soát (kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 74 003814 do Công an huyện Hướng Hóa cấp ngày 09/10/2024 và 01 Biển kiểm soát 74AH - 058.15 chất liệu kim loại, nền sơn trắng, chữ số sơn đen).

- Trả lại cho bị cáo Thái Ngọc H: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng, trên bề mặt lưng sau của máy có in dòng SAMSUNG, bên trong không gắn thẻ sim, đã qua sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo Thái Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại Bản luận cứ bào chữa cho bị cáo Thái Ngọc H, luật sư Lê Quang H trình bày: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Thái Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp hơn mức án mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo Thái Ngọc H thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Thái Ngọc H và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ năm 2020, Thái Ngọc H đã có hành vi mua ma tuý đưa về nhà cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời. Ngày 31/3/2025, Thái Ngọc H 02 lần bán ma tuý cho Nguyễn Ngọc V và 02 lần bán ma túy cho Trần Nhơn P, đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang thu giữ ma túy. Kết luận giám định số 419/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 48,17gam. Ngoài ra, bị cáo H còn nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Đức Đ, Lê Ngọc T, Nguyễn Ngọc V, Trần Nhơn P nhưng không nhớ rõ, thời gian, địa điểm, số lượng ma túy đã bán. Vì vậy, hành vi của bị cáo phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thái Ngọc H phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình do đó cần áp dụng tình tiết “Người phạm tội T khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

. Về xử lý vật chứng:

Số lượng ma túy và toàn bộ bao gói sau giám định đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số MT419/ĐỒN LAO BẢO có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Trị; 10 túi nilon màu xanh dạng túi zip, kích thước (9,5 x 6,5)cm và 10 túi nilon màu hồng bên trên một mặt có in chữ A màu trắng, đã qua sử dụng; 03 sợi dây cao su màu đỏ; 01 thẻ sim có số thuê bao 0981.754.676, trên sim in số 89840048000007073298; 01 que test dùng để thử nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Thái Ngọc H; 01 cái ví da màu đen, đã qua sử dụng là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 3.674.000 đồng thu giữ của bị cáo do bị cáo bán ma túy mà có (đang gửi tại kho bạc nhà nước); 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xám, trên mặt lưng sau của máy có in dòng chữ SAMSUNG do bị cáo mua từ tiền bán ma túy mà có; 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn Đen, số máy: G3M5E325511, số khung: RLCUG1910RY014749, không gắn biển kiểm soát, giấy đăng ký xe mô tô tên bị cáo (kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 74 003814 do Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 09/10/2024 và 01 Biển kiểm soát 74AH - 058.15 chất liệu kim loại, nền sơn trắng, chữ số sơn đen), bị cáo dùng làm phương tiện đi mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu vàng, trên bề mặt lưng sau của máy có in dòng chữ SAMSUNG, bên trong máy không gắn thẻ sim không liên quan đến hành vi mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo.

. Về các vấn đề khác của vụ án.

Đối với nội dung lời khai của Thái Ngọc H, về việc mua ma túy của một số người, trong đó có người đàn ông người dân tộc thiểu số. Do thông tin còn ít, không xác định được lai lịch, do đó không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này.

Đối với người mua ma túy của Thái Ngọc H: Kết quả điều tra xác định, Nguyễn Ngọc V, Trần Nhơn P, Nguyễn Đức Đ và Lê Ngọc T đã sử dụng hết số ma túy đã mua. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý mà chuyển giao thông tin, tài liệu cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý vi phạm hành chính hành về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Quang V, sinh năm 1994, nơi cư trú: thôn Tân Kim, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, là chủ tài khoản số 0384296995, mở tại Ngân hàng Samcombank. Kết quả điều tra xác định, Nguyễn Quang V cho Thái Ngọc H mượn tài khoản ngân hàng nhưng V không biết H sử dụng tài khoản này để nhận tiền bán ma túy, nên Nguyễn Quang V không phải chịu trách nhiệm hình sự.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Thái Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thái Ngọc H 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 31/3/2025).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy số lượng ma túy và toàn bộ bao gói sau giám định đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số MT419/ĐỒN LAO BẢO có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị (Kèm theo Kết luận giám định số 419/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị); 10 túi nilon màu xanh dạng túi zip, kích thước (9,5 x 6,5)cm và 10 túi nilon màu hồng bên trên một mặt có in chữ A màu trắng, đã qua sử dụng; 03 sợi dây cao su màu đỏ (Kèm theo Kết luận giám định số 421/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị); 01 thẻ sim có số thuê bao 0981.754.676, trên sim in số 89840048000007073298; 01 que test thử nhanh chất ma túy dùng để thử nhanh chất ma túy trong nước tiểu của Thái Ngọc H; 01 cái ví da màu đen, đã qua sử dụng.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Thái Ngọc H 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xám, trên mặt lưng sau của máy có in dòng chữ SAMSUNG (Kèm theo Kết luận giám định số 982/KL-KTHS ngày 20/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị); 01 xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn Đen, số máy: G3M5E325511, số khung: RLCUG1910RY014749, không gắn biển kiểm soát, đã qua sử dụng (kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 74 003814 do Công an huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cấp ngày 09/10/2024 và 01 Biển kiểm soát 74AH - 058.15 chất liệu kim loại, nền sơn trắng, chữ số sơn đen).

- Trả lại cho bị cáo Thái Ngọc H 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu vàng, trên bề mặt lưng sau của máy có in dòng chữ SAMSUNG, bên trong máy không gắn thẻ sim, đã qua sử dụng (Kèm theo Kết luận giám định số 982/KL-KTHS ngày 20/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị).

Vật chứng do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Thái Ngọc H số tiền 3.674.000 đồng (Hiện đang bảo quản tại Kho bạc nhà nước Khu vực số XII – Phòng giao dịch số 9 theo Biên bản giao nhận tài sản số: 25/2025/BBGN-PGD số 9-KBNN Khu vực số XII ngày 22/9/2025 giữa Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị và Kho bạc nhà nước Khu vực số XII - Phòng giao dịch số 9).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Thái Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28/01/2026).

Cỡ chữ