- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý A K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý A K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2026/HS-ST Ngày 09-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hoa Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Mùi
Bà Hoàng Thị Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Bá Đạt- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2025/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Lý A K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/01/1993, tại xã G, tỉnh Lào Cai; số định danh cá nhân/CCCD 015093003825; nơi ĐKNKTT: Thôn N, xã G, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Phúc T (đã chết) và bà Hoàng Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/8/2025, tạm giam ngày 06/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh L. Có mặt.
Người bào chữa: Bà Lương Thị Ngọc P - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lý Thị V, sinh năm 1999, trú tại thôn N, xã S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 28/8/2025, Công an xã T, tỉnh Lào Cai làm nhiệm vụ tại thôn B, xã T, tỉnh Lào Cai, phát hiện bắt quả tang Lý A K có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, thu giữ của Lý A K 03 gói bằng mảnh nilon màu vàng đều được hàn túm một đầu, bên trong mỗi gói có chứa chất bột nén màu trắng, Lý A K khai nhận là Heroine, cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tạm giữ của Lý A K 01 xe mô tô màu trắng, nhãn hiệu Wave RSX, biển số 21K1 - 393.94.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Lý A K tại thôn N, xã G, tỉnh Lào Cai, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Kết quả điều tra Lý A K khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28/8/2025, K một mình điều khiển xe mô tô biển số 21K1-393.94 đi đến xã N, tỉnh Lào Cai với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng, đến khu vực đồi thông thuộc thôn N, xã N gặp và mua được của một người phụ nữ không quen biết 04 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó K đi về, trên đường về K dừng xe ở ven đường rồi đi vào bụi cây gần đó lấy 01 gói Heroine và dùng kim tiêm đã chuẩn bị từ trước sử dụng hết 01 gói Heroine bằng cách chích Heroine vào cơ thể, 03 gói Heroine còn lại Khé cất giấu trên người rồi tiếp tục đi về, khi đến thôn Bản Chao, xã T, tỉnh Lào Cai thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ.
Tại Kết luận giám định số 483/KL-KTHS ngày 03/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang của Lý A K ngày 28/08/2025 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,23 gam.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS- KV4 ngày 18/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lý A K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Lý A K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lý A K từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine (sau khi trích mẫu giám định) được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong vật chứng, 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong vật chứng + nilon gói; trả lại cho chị Lý Thị V 01 xe mô tô biển số 21K1-393.94; bị cáo thuộc hộ nghèo thuộc trường hợp miễn án phí đề nghị miễn án phí cho bị cáo, đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lý A K nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp, đề nghị miễn án phí.
Người bào chữa cho bị cáo cơ bản nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án. Về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; đề nghị miễn án phí.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về sự có mặt, vắng mặt của người tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập đến phiên tòa. Chị Lý Thị V được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã thể hiện đầy đủ ý kiến của chị V. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292; của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử và công bố lời khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa bị cáo Lý A K thừa nhận là người sử dụng trái phép chất ma tuý, để thoả mãn nhu cầu của bản thân ngày 28/8/2025, bị cáo điểu khiển xe mô tô biển số 21K1-393.94 đến khu vực đồi thông thuộc thôn N, xã N, tỉnh Lào Cai tìm và mua được 04 gói Heroine với giá 200.000 đồng, bị cáo đã sử dụng 01 gói Heroine, số còn lại đang cất giấu trong người với mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 0,23 gam Heroine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ phép chất ma túy sẽ bị xử lý theo pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Lý A K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất mức độ gây nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm hại đến những quy định của Đảng và Nhà nước trong việc sản xuất, quản lý và sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ tính trái pháp luật của hành vi nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện bị cáo là người có nhân thân chưa tốt.
Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo, để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cai nghiện, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp phần giáo dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng ngừa tội phạm Ma túy. Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật được HĐXX chấp nhận. HĐXX không chấp nhận đề nghị về mức hình phạt của người bào chữa đối với bị cáo, bởi đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là thấp chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lý A K.
Về vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án:
+ 0,23 gam Heroine đã trích 0,1 gam Heroine sử dụng làm mẫu vật giám định không hoàn lại. Số còn lại 0,13 gam Heroine được niêm phong trong 01 vỏ phong bì do phòng K1 Công an tỉnh L phát hành là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.
+ 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong vật chứng + nilon gói là những vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định pháp luật.
+ 01 xe mô tô biển số 21K1-393.94 thu giữ khi bắt quả tang, quá trình điều tra xác minh đây là tài sản của chị Lý Thị V cho bị cáo mượn, khi cho mượn chị V không biết việc bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên trả lại xe mô tô biển số 21K1-393.94 cho chị Lý Thị V.
Về vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa ở đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lý A K: Ngày 28/8/2025, Lý A K sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Lý A K kết quả dương tính với ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lý A K không thuộc các trường hợp cấu thành tội phạm hình sự nên Công an tỉnh L đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi này của K là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa đề nghị miễn án phí, Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý A K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lý A K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28/8/2025.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ các điểm a, c khoản 2, đểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam Heroine được niêm phong trong 01 phong bì do phòng K1 công an tỉnh L phát hành; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong vật chứng + mảnh nilon gói.
- Trả lại cho chị Lý Thị V 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX biển số 21K1-393.94.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07/01/2026 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và phòng Thi hành án dân sự khu vực 4- Lào Cai, tỉnh Lào Cai).
4. Về án phí: Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý A K.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Lý A K có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Hải Quan tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 4- Lào Cai; - Công an tỉnh Lào Cai; HSNV; - Trại tạm giam số 02 CA tỉnh Lào Cai; - Phòng THADS khu vực 4- Lào Cai; - Thi hành án hình sự; - UBND xã Gia Hội, tỉnh Lào Cai; - Bị cáo; người bào chữa; - Người có QL, NV liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Hoa Quỳnh |