vanban.org

Bản án 10/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 20/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bàn Quý S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bàn Quý S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 09-10-2025. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Quý S - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bàn Quý S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2026/HS-ST
Ngày: 13 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Ngô Thị Hoa;

2. Ông Phạm Thanh Châu Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2025/TLST - HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Bàn Quý S, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1989, tại xã Lương Thịnh, tỉnh Lào Cai.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Khe Cá, xã Lương Thịnh, tỉnh Lào Cai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bàn Tiến L, sinh năm 1964; Con bà Triệu Thị T, sinh năm 1969; Vợ Triệu Thị T1, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con có 01 con sinh năm 2010.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 20/QĐ-TA, ngày 10-3-2023 với thời hạn 02 năm.

Nhân thân: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 06/QĐ-TA, ngày 25-6-2018 với thời hạn 02 năm.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09-10-2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lào Cai (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bàn Quý S, sinh năm 1989, thường trú tại thôn Khe Cá, xã Lương Thịnh, tỉnh Lào Cai là người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 24/QĐ-UBND ngày 01-7-2025 của Ủy ban nhân dân xã Lương Thịnh, tỉnh Lào Cai, với thời hạn quản lý từ ngày 28-6-2025 đến 28-6-2027. Ngày 08-10-2025, Công an xã Lương Thịnh tiến hành triệu tập Bàn Quý S đến để xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể. Kết quả xét nghiệm xác định Bàn Quý S dương tính với chất ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của S để trưng cầu giám định.

Căn cứ vào hành vi phạm tội, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Bàn Quý S. Kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Quá trình làm việc S tự nguyện giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Hồng Hà màu nâu đỏ, bên trong không còn lớp giấy bạc bảo vệ thuốc và 01 chiếc bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 2464/KL-KTHS ngày 09-10-2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Trong mẫu nước tiểu thu của Bàn Quý S, gửi đến giám định có chất ma tuý, loại Morphine.

* Morphine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIA, số thứ tự 55 Nghị

định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Morphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong cơ thể người.”

Tại phiên tòa Bàn Quý S khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 07-10-2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên S đã đi xe mô tô biển kiểm soát 21B1 - 96095 lên thôn Hồng Lâu, xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai tìm mua ma túy (Heroine) để sử dụng. Tại đây S đã gặp và mua được 01 gói ma tuý (Heroine) với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. Sau khi mua được ma túy, S cất giấu gói ma túy trong túi áo đang mặc trên người rồi đi về nhà. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Sơn xuống bếp của gia đình sử dụng hết gói ma túy đã mua bằng hình thức hít vào cơ thể.

Cáo trạng số: 38/CT-VKS-KV3 ngày 15 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lào Cai truy tố Bàn Quý S về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đồng thời đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bàn Quý S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt bị cáo Bàn Quý S từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá Hồng Hà màu nâu đỏ, bên trong không còn lớp giấy bạc bảo vệ thuốc; 01 chiếc bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng.

Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa Bàn Quý S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đúng như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không có tranh luận gì

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử;

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo Bàn Quý S tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Bàn Quý S là người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 24/QĐ-UBND ngày 01-7-2025 của Ủy ban nhân dân xã Lương Thịnh, tỉnh Lào Cai, nhưng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 07-10-2025 S đã đi đến thôn Hồng Lâu, xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai mua 01 gói ma tuý loại Heroine với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua được ma túy S cất giấu trong túi áo và đi về nhà đến khoảng 21 giờ cùng ngày S xuống bếp của gia đình sử dụng hết gói ma túy đã mua bằng hình thức hít vào cơ thể. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy Bàn Quý S là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật, biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của Bàn Quý S đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy: Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương, đồng thời còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác, cần phải được xử lý nghiêm minh và có hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 20/QĐ-TA ngày 10-3-2023, ngày 28-6-2025 chấp hành xong.

Nhân thân: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Lào Cai) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 06/QĐ-TA ngày 25-6-2018, đến ngày 06-7-2020 chấp hành xong. Vì vậy thể hiện bị cáo là người có nhân thân không tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Hồng Hà màu nâu đỏ, bên trong không còn lớp giấy bạc bảo vệ thuốc; 01 chiếc bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng.

Những người tham gia tố tụng khác: Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Bàn Quý S vào ngày 07-10-2025, do không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này; ngoài lời khai của S thì không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh. Nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, điều tra xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với bà Triệu Thị T là người sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu sơn xanh, BKS 21B1-96095 là mẹ đẻ của Bàn Quý S, S đã sử dung chiếc xe mô tô trên đi làm phương tiện mua ma túy ngày 07-10-2025. Bà T không biết và S cũng không nói cho bà T biết. Nên Cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ chiếc xe và không đề cập xử lý đối với bà T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Bàn Quý S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát khu vực 3 – Lào Cai tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố bị cáo Bàn Quý S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bàn Quý S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 09-10-2025.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá Hồng Hà màu nâu đỏ, bên trong không còn lớp giấy bạc bảo vệ thuốc; 01 chiếc bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng.

(theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-12-2025)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bàn Quý S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ