vanban.org

Bản án 10/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tiến S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 11/10/2025. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tiến S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tiến S - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2026/HS-ST
Ngày 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Vèn

Ông Triệu Tiến Lả

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Lan Hương, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026 tại Trường Trung học phổ thông Bình Gia, Toà án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Tiến S (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 06 tháng 4 năm 1980 tại xã N, tỉnh Lạng Sơn; CCCD số: 020080004697, ngày cấp: 10/5/2021, nơi cấp: Cục Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã N, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu V, sinh năm 1950 (Đã chết) và bà Lăng Thị H, sinh năm 1949; vợ: Dương Thị H, sinh năm 1978, con: Có 02 con sinh năm 2001 và năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2009 bị Toà án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tại Bản án số 33/2009/HSST ngày 21/11/2009, đã được xoá án tích; Năm 2021 bị UBND xã T, huyện B (nay là UBND xã N, tỉnh Lạng Sơn) quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng tại Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 06/01/2021, chấp hành xong ngày 06/4/2021; bị cáo bị bắt tạm giam tại Phân trại tạm giam Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 11/10/2025 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 10/10/2025, tổ công tác Công an xã N, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ trên địa bàn xã N thì phát hiện Trần Tiến S có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mời về trụ sở Công an xã N để làm việc, tiến hành lấy nước tiểu test nhanh chất ma túy trong cơ thể, kết quả Trần Tiến S dương tính với chất ma túy. Trần Tiến S khai nhận bản thân đang điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone Đ thuộc Trung tâm y tế V, tỉnh Thái Nguyên, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 09/10/2025. Công an xã N đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu mẫu giám định (nước tiểu), niêm phong và gửi trưng cầu giám định để xác định chất ma tuý trong mẫu nước tiểu của Trần Tiến S theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 2831/KL-KTHS ngày 11/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Mẫu nước tiểu thu của Trần Tiến S trong 01 chai nhựa trong suốt (trong túi niêm phong ký hiệu NS2 24010415) gửi giám định có tìm thấy Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Trần Tiến S khai nhận: Trần Tiến S bắt đầu sử dụng ma tuý Heroin bằng hình thức hít từ năm 2012 do bị bạn bè rủ rê. Bị cáo đã tự nguyện tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone từ ngày 29/3/2016 tại Trung tâm y tế B, tỉnh Lạng Sơn, đến cuối tháng 10/2020 thì tự ý bỏ điều trị và tái nghiện ma túy Heroin. Ngày 18/12/2020, Trần Tiến S tiếp tục đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Phòng khám Đa khoa khu vực N, thuộc Trung tâm y tế B, đến ngày 05/7/2023 thì chuyển đến điều trị tại Cơ sở điều trị Methadone Đ thuộc Trung tâm y tế V, tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình điều trị Methadone, Trần Tiến S vẫn thỉnh thoảng sử dụng trái phép chất ma túy. Lần gần đây nhất là khoảng 08 giờ 45 phút ngày 09/10/2025, sau khi uống thuốc Methadone xong, Trần Tiến S điều khiển xe mô tô ra khu vực ngã tư Đ thuộc xã V, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma tuý đá (ma tuý tổng hợp), tại đây Trần Tiến S gặp một người đàn ông làm nghề lái xe ôm (không biết tên tuổi, địa chỉ), hỏi mua 100.000 đồng ma tuý đá, người đàn ông cầm tiền rồi lái xe đi, khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho Trần Tiến S một gói giấy bạc bên trong có chứa ma tuý đá. Trần Tiến S cầm ma tuý rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực khe suối D thuộc địa phận thôn T, xã N, tỉnh Lạng Sơn, dừng xe mô tô bên đường và đi bộ vào bên trong khe D khoảng 12 mét, thấy không có người đi lại nên Trần Tiến S lấy gói ma tuý đá vừa mua được ra để sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng ma tuý xong, Trần Tiến S đi về nhà, đến ngày 10/10/2025 thì bị Công an xã N mời về trụ sở làm việc và test kiểm tra cho kết quả dương tính với chất ma tuý.

Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSKV3 ngày 05/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Tiến S về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trần Tiến S ở khu vực ngã tư Đ thuộc xã V, tỉnh Thái Nguyên, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được thông tin liên quan đến người đàn ông này.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38, Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Tiến S từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Trần Tiến S không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ buộc tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Tiến S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản sự việc, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để xác định: Trần Tiến S là đối tượng nghiện chất ma túy Heroin từ năm 2012 đến nay, đã tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại các cơ sở điều trị thuộc Trung tâm y tế B từ tháng 3/2016 đến tháng 7/2023, chuyển đến điều trị tại Cơ sở điều trị Methadone Đ, thuộc Trung tâm y tế V, tỉnh Thái Nguyên từ ngày 04/7/2023 đến nay. Ngày 09/10/2025, Trần Tiến S đã mua 100.000 đồng ma tuý tổng hợp với một người đàn ông không quen biết ở khu vực Đ, xã V, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng cho bản thân bằng hình thức hít tại khu vực khe suối D thuộc địa phận thôn T, xã N, tỉnh Lạng Sơn. Hành vi của Trần Tiến S thuộc trường hợp đang điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý, vi phạm quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Trần Tiến S về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ thống nhất quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm hại đến sức khỏe của người sử dụng; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm hình sự khác. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo Trần Tiến S đã 01 lần bị kết án về tội đánh bạc, 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn nên có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Tiến S đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố mẹ đẻ là ông Trần Hữu V và bà Lăng Thị H đều được Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, bị cáo có trình độ học vấn 2/12, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm, đang điều trị cai nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone Đ thuộc Trung tâm y tế V, tỉnh Thái Nguyên nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép ma túy. Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đủ để bị cáo cải tạo sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Trần Tiến S ở khu vực ngã tư Đ thuộc xã V, tỉnh Thái Nguyên, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được thông tin của người đàn ông này nên Hội đồng xét xử chưa xem xét, xử lý trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo Trần Tiến S là người bị kết án, không thuộc đối tượng được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án phù hợp với các nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến S phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Tiến S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 11/10/2025.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Tiến S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ