vanban.org

Bản án 10/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Kh phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

TAND tỉnh Thanh Hoá; VKSND tỉnh Thanh Hóa; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Bá Kh - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Kh phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 13 - THANH HÓA
Bản án số: 10/2026/HS-ST
Ngày 24 tháng 3 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Mấy và ông Hoàng Văn Hào

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thanh Ngọc - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Cảnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 13 – Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Phạm Bá Kh, sinh ngày 11/01/1984, tại tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: 038084040447; nơi đăng ký thường trú: Bản C, xã T, tỉnh Thanh Hoá; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Phạm Hồng Th (đã chết) con bà Vi Thị Đ (đã chết); bị cáo có vợ Phạm Thị Q, sinh năm 1986 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2005.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 21/11/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định số 33/QĐ-TA, thời hạn 23 tháng. Đến ngày 03/9/2024 bị cáo chấp hành xong.

Nhân thân:

- Ngày 08/9/2006, bị Chủ tịch UBND huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá (cũ) ra Quyết định số 408/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở chữa bệnh, để cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Đến ngày 23/10/2007 bị cáo chấp hành xong.

- Ngày 13/12/2011, bị TAND huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa) tuyên phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 18/2011/HS-ST. Đến ngày 14/3/2012 bị cáo chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2026, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Quan Hóa, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: Ông Hà Văn Khôi – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người chứng kiến: Anh Thao Văn C, sinh năm 1989 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 27/12/2025, bị cáo Phạm Bá Kh đi đến bản N, xã L, tỉnh Thanh Hóa thì gặp người đàn ông dân tộc Mông (không rõ nhân thân, lai lịch) mua được 01 viên ma túy, loại Hồng phiến với giá 25.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Kh đi xuống bờ sông Mã thuộc bản N, xã L, tỉnh Thanh Hóa sử dụng hết số ma túy trên.

Đến sáng ngày 30/12/2025, Kh đi nhờ xe máy của một nam thanh niên không quen biết lên xã Mường Lát, đến Km70+500 Quốc lộ 15C thuộc địa phận bản Kéo Té, xã L thì bị Tổ công tác Công an xã L, tỉnh Thanh Hóa tiến hành kiểm tra. Thấy vậy, nam thanh niên điều khiển xe máy bỏ chạy, còn Phạm Bá Kh ngồi phía sau bị tổ công tác giữ lại.

Làm việc với Công an xã L, Kh đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên. Công an xã L phối hợp với Trạm y tế xã L, tỉnh Thanh Hóa tiến hành test nhanh mẫu nước tiểu của Phạm Bá Kh. Kết quả, Kh dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine (BL 01, 02; 10-12; 64-88).

Tại thời điểm bị phát hiện, bị cáo Phạm Bá Kh đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú, theo Quyết định số 248/QĐ-UBND ngày 06/9/2024 của Chủ tịch UBND xã T, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa). Thời hạn quản lý từ ngày 06/9/2024 đến ngày 06/9/2026 (BL: 63).

Tại bản Kết luận giám định số 288/KL-KTHS ngày 04/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Phạm Bá Kh gửi đến giám định. (BL: 92, 93).

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Kh, do Kh khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, không có đặc điểm nhận dạng rõ ràng nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người đàn ông đã cho Kh đi nhờ xe máy lên Mường Lát, không liên quan đến vụ án nên không có căn cứ để tiếp tục xác minh và xử lý trong vụ án này.

Tại bản Cáo trạng số 01D/CT-VKSKV13 ngày 08/02/2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Phạm Bá Kh về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Bá Kh từ 24 đến 27 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/01/2026. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại bản bào chữa cho bị cáo, người bào chữa thống nhất với quan điểm truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thanh Hóa về tội danh, khung hình phạt. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) để quyết định hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm về với gia đình và trở thành người công dân có ích cho xã hội. Đề nghị HĐXX xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Bá Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm phạm tội, vật chứng thu giữ, kết quả xét nghiệm nước tiểu và kết luận giám định về ma tuý, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Bị cáo Phạm Bá Kh đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý, tại UBND xã L, tỉnh Thanh Hoá (Thời hạn quản lý từ ngày 04/9/2024 đến ngày 04/9/2026). Nhưng ngày 27/12/2025, tại bản N, xã L, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý. Kết quả giám định, kết luận tìm thấy chất ma tuý loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu của bị cáo Phạm Bá Kh.

Hành vi của bị cáo Phạm Bá Kh như nêu trên đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) có khung hình phạt từ 02 năm đến 03 năm tù.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ việc tiếp tục sử dụng ma tuý là trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, là các năm 2006 và 2022. Năm 2011 bị cáo bị TAND huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa) tuyên phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục thực hiện tội phạm. Do đó, cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc bằng tù có thời hạn đối với bị cáo, nhằm giáo dục bản thân bị cáo, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét thấy bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 02 tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, còn tồn tại nhiều quan niệm chưa đúng về việc sử dụng ma tuý, vẫn xem ma tuý như là một loại thuốc chữa bệnh thông thường. Do đó khi áp dụng hình phạt là tù có thời hạn cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, từ đó tu dưỡng, cải tạo mình trở thành công dân tốt, sớm quay về hoà nhập với gia đình, xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 24 đến 27 tháng tù là có căn cứ, đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Không có vật chứng để xử lý.

Về các vấn đề khác: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là cá nhân thuộc hộ nghèo nên theo quy định bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Kh phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt bị cáo Phạm Bá Kh 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/01/2026.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Bá Kh.

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ