vanban.org

Bản án 10/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim C đối với ông Nguyễn Vương L.

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim C được ly hôn với ông Nguyễn Vương L. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Vương L có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Thanh D, sinh ngày 23/10/2023 (hiện con chung đang sống với bà C). Sau khi ly hôn, bà Huỳnh Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Kim C "ly hôn" Nguyễn Văn L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim C đối với ông Nguyễn Vương L.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 4 – TÂY NINH
Bản án số: 10/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 10-02-2026
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hưởng;

Ông Trần Văn Tươi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh.

Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 254/2025/TLST-HNGĐ ngày 31/12/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 2004.

Địa chỉ: A, ấp A, xã H, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Vương L, sinh năm 2003.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.

(Tất cả có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Kim C trình bày:

Bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Vương L xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 2023 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An theo GCNKH số 50 ngày 02/10/2023. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó tình cảm vợ chồng nhạt dần, bà có cố gắng vun đắp nhưng không được, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Ông L thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, một mình bà phải lo lắng, chăm sóc con chung và chăm lo kinh tế gia đình. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, cuộc sống chung không thể tiếp tục được, vợ chồng sống không hạnh phúc. Bà và ông L đã ly thân từ tháng 10/2025 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Vương L.

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim C yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Vương L.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Thanh D, sinh ngày 23/10/2023. Hiện con chung đang sống cùng bà Huỳnh Thị Kim C. Sau khi ly hôn, bà Huỳnh Thị Kim C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Vương L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí Tòa án: Bà Huỳnh Thị Kim C tự nguyện chịu toàn bộ.

Bị đơn ông Nguyễn Vương L trình bày:

Bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Vương L xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 2023 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An theo GCNKH số 50 ngày 02/10/2023. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó tình cảm vợ chồng nhạt dần, ông có cố gắng vun đắp nhưng không được, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Trước khi kêt hôn với bà C, ông có thường xuyên uống rượu nhưng từ khi kết hôn đến nay thì ông rất hạn chế uống rượu. Ông có cố gắng tìm việc nhưng hiện nay vẫn chưa có công việc ổn định. Hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2025 nay. Tuy nhiên, do ông còn yêu thương, quan tâm bà C nên ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Thanh D, sinh ngày 23/10/2023. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý giao con chung cho bà C nuôi dưỡng. Ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Thị Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Vương L, hiện ông L đang cư trú tại ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tố tụng “Tranh chấp ly hôn”, thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Tây Ninh.

Bà Huỳnh Thị Kim C, ông Nguyễn Vương L có mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Huỳnh Thị Kim C thấy rằng: Bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Vương L xác lập quan hệ vợ chồng và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An theo GCNKH số 50 ngày 02/10/2023 theo đúng quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà C trình bày thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả nhau, ông L không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu. Hiện tại, bà C không còn tình cảm với ông L và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Bà C1 trình bày dù Tòa án có giải quyết không cho bà ly hôn với ông L thì tình cảm vợ chồng cũng không còn, bà không thể tiếp tục sống chung với ông L. Ông L trình bày ông vẫn còn yêu thương, quan tâm bà C nên không đồng ý ly hôn.

Xét thấy, hôn nhân giữa bà C và ông L đã xảy ra mâu thuẫn trong thời gian dài, bà C không còn tình cảm với ông L nữa. Bà khẳng định dù Tòa án giải quyết cho bà được đoàn tụ với ông L thì đời sống vợ chồng cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được mà chỉ làm cho mối quan hệ vợ chồng thêm căng thẳng, bế tắc. Hiện bà C và ông L đã ly thân từ tháng 10/2025 đến nay. Điều này cho thấy bà C đã thật sự mong muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng với ông L. Riêng ông L thể hiện thiện chí đoàn tụ nhưng không đưa ra được bất kỳ giải pháp cụ thể nào để tạo niềm tin cho bà C, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã cho các bên thời gian để trao đổi, hòa giải và đưa ra giải pháp chung nhằm mục đích hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng kết quả không thành. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà C là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Thanh D, sinh ngày 23/10/2023. Hiện con chung đang sống cùng bà Huỳnh Thị Kim C. Sau ly hôn, bà Huỳnh Thị Kim C yêu cầu được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Vương L cấp dưỡng nuôi con. Ông L cũng thống nhất trình bày trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý giao con chung cho bà C nuôi dưỡng. Ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, thực tế bà C là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cho đến nay. Quá trình bà C nuôi dưỡng con chung đều đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung. Hiện con chung dưới 36 tháng tuổi nên theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cho bà Kim C trực tiếp nuôi dưỡng. Ông L cũng đồng ý giao con chung cho bà Kim C nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà C về việc giao cho bà C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Huỳnh Thanh D.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, xét thấy bà C không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung và ông L cũng thống nhất nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp bà C có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về tài sản chung: Các đương sự thống nhất vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các đương sự tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: Các đương sự thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim C đối với ông Nguyễn Vương L.

1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim C được ly hôn với ông Nguyễn Vương L.

2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Kim C và ông Nguyễn Vương L có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Thanh D, sinh ngày 23/10/2023 (hiện con chung đang sống với bà C). Sau khi ly hôn, bà Huỳnh Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Huỳnh Thanh D. Ông Nguyễn Vương L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên đương sự, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí bà C đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017022, ngày 30/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà Huỳnh Thị Kim C đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ