- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương Thị H - Hoàng Văn C"
- Tòa quyết gì? VÒ quan hÖ h«n nh©n: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Vương Thị H, cho chị Vương Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 –CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2026/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 5 năm 2026. "Về việc: Yêu cầu ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CAO BẰNG
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy.
- Các Hội thẩm nhân dân gồm: Bà Lý Thị Mừng và ông Đinh Vĩnh Thành
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Hiên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thắm - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 2 - Cao Bằng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2025/TLST – DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “ Yêu cầu ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Vương Thị H - Sinh năm 1988;
Nơi thường trú: Thôn S, xã B, tỉnh Lào Cai.
Nơi tạm trú: Phố Q, tổ dân phố B K, phường L, tỉnh Lào Cai.
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 05/06/2022; Nơi cấp: Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C1;
Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Hoàng Văn C - Sinh năm 1986;
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 17/06/2022; Nơi cấp: Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C1.
Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Xóm K, xã H, tỉnh Cao Bằng.
Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nông Văn D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 14 tháng 10 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Vương Thị H trình bày:
Tôi kết hôn với anh Hoàng Văn C ngày 31/3/2022, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Về quá trình chung sống: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau dẫn đến cuộc sống không có hạnh phúc. Mâu thuẫn trầm trọng và đặc biệt từ năm 2025, anh C nhiều lần đánh đập tôi thậm tệ. Mỗi lần anh C sang Lào Cai là lại đánh tôi. Từ tháng 08/2025 đến nay chúng tôi sống ly thân nhau, không ai quan tâm ai về cả tình cảm và kinh tế. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tôi đền ghị Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cao Bằng giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Gia H1, sinh ngày 23/12/2021, hiện nay con đang ở với tôi. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án ý kiến của anh Hoàng Văn C như sau:
Ngày 10/11/2025, anh Hoàng Văn C có văn bản nêu ý kiến không đồng ý ly hôn khi chưa giải quyết xong tài sản chung của vợ chồng gồm 01 thửa đất, 01 cửa hàng Spa và 01 xe ô tô…
Ngày 10/12/2025, anh Hoàng Văn C có đơn yêu cầu phản tố về vấn đề tài sản chung. Tòa án nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng đã 02 lần ra Thông báo về việc sửa đổi, bổ sung Đơn yêu cầu phản tố nhưng người có yêu cầu phản tố không sửa đổi, bổ sung đơn nên Tòa án nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng đã ra Thông báo trả lại đơn yêu cầu phản tố theo quy định của pháp luật.
Tại đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 06/4/2026, anh Hoàng Văn C nêu ý kiến: “Tôi đồng ý và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vương Thị H”.
* Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bị đơn nhất trí với toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, không có ý kiến gì khác, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng thủ tục tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vương Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn C. Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia H1 – Sinh ngày 23/12/2021 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc; Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Các đương sự đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Vương Thị H và anh Hoàng Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai (nay là xã G, tỉnh Lào Cai) vào ngày 31/3/2022, là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị H và anh C chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau dẫn đến cuộc sống không có hạnh phúc. Quá trình xảy ra mâu thuẫn, anh C nhiều lần đánh đập chị H. Từ tháng 08/2025 đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, không ai quan tâm ai về cả tình cảm và kinh tế. Theo đơn trình bày ý kiến và xin xét xử vắng mặt ngày 06/4/2026, anh C nêu ý kiến: “Tôi đồng ý và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vương Thị H”. Do đó, căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Vương Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị Vương Thị H và anh Hoàng Văn C có 01 con chung là Hoàng Gia H1 - Sinh ngày 23/12/2021. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Anh C đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản chung: Chị H và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về nợ chung vợ chồng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Chị Vương Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 147; Điều 227, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 116 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ñy ban th êng vô Quèc héi; xử:
1. VÒ quan hÖ h«n nh©n: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Vương Thị H, cho chị Vương Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn C.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Gia H1 – Sinh ngày 23/12/2021 cho chị Vương Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi xét thấy cần thiết, các bên có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. VÒ ¸n phÝ: Chị Vương Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0000158 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:
| -Toµ ¸n tØnh CB; -VKS tØnh CB; -VKS KV2-CB; - Phòng THADS KV2-CB; - C¸c ® ¬ng sù; - UBND xã G; - L u HS, AV. | tm. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ (Đã ký) Hoàng Thị Thúy |