- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chia s - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chia S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số:10/2025/HS-ST Ngày: 09-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Kim Hoa và bà Nguyễn Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: bà Phùng Kim Ngân, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2025 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 432/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 425/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024; Thông báo mở lại phiên toà số: đối với bị cáo:
Chia S, sinh năm 1991 tại Thái Lan; thƣờng trú: APT BLK 212 ANG MO KIO AVENUE 3 #02-1488 SINGAPORE 560212; nơi ở hiện nay: Khách sạn “Rạng Đông 99”, số B đƣờng số D, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Singapore; con ông Quek Sin L (đã chết) và bà Chortip Sae T (đã chết); bị cáo chƣa có vợ con; có 02 anh, chị, em cùng mẹ khác cha; tiền án, tiền sự: chƣa có kết quả xác minh lý lịch tƣ pháp; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2024. Có mặt.
- Người phiên dịch cho bị cáo: bà Hoàng Thu H, sinh năm 1978; thƣờng trú: 11A, CC A, H, phƣờng E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người chứng kiến: ông Trần Văn Đ, sinh năm 1984. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Chia S và Nguyễn Đình N quen biết nhau từ khoảng tháng 6/2023 thông qua bạn bè ngoài xã hội. Sau đó, hai ngƣời yêu nhau và sinh sống nhƣ vợ chồng. Khoảng cuối tháng 12/2023, Chia S và N đến thuê phòng 202 thuộc khách sạn “Rạng Đông 99” tại số B đƣờng số D, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để cƣ trú.
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 22/01/2024, C đi bộ trên đoạn đƣờng số F, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, gần khách sạn “R”, thì gặp ngƣời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi Chia S có mua ma túy không. Chia S thỏa thuận mua với số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng. Ngƣời này đƣa cho Chia S 01 túi nylon miệng kéo dính lớn, bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính nhỏ có chứa tinh thể màu trắng (là ma túy đá) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh). Chia S trả tiền mặt cho ngƣời đàn ông và đi về phòng 202 của khách sạn. Khi về tới phòng 202, Chia S thấy N đang nằm ngủ nên lấy một ít ma túy bỏ vào nỏ thủy tinh của bộ D và sử dụng ma túy một mình. Sau đó, số ma túy còn trong nỏ chƣa sử dụng hết và túi nylon chứa ma túy còn lại thì Chia S để trên bàn trang điểm và đi ngủ. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, Nhƣ thức dậy đi vệ sinh thì thấy Chia S đang nằm ngủ bên cạnh. Nhƣ thấy trên bàn trang điểm có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 túi nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng, Nhƣ biết đó là ma túy vì N từng sử dụng ma túy đá trƣớc khi quen biết Chia S. Nhƣ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy và sử dụng 01- 02 hơi. Do sợ Chia S thức dậy sẽ tiếp tục sử dụng ma túy ảnh hƣởng đến sức khỏe nên N lấy túi nylon chứa ma túy bỏ vào trong cái bóp màu đỏ - trắng của N và giấu dƣới gối Nhƣ nằm, còn bộ dụng cụ sử dụng ma túy vẫn để trên bàn trang điểm. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, Công an phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố D kiểm tra hành chính tại phòng 202, khách sạn “Rạng Đông 99”. Tại đây, lực lƣợng Công an phát hiện bên góc trái từ cửa phòng đi vào có 01 bàn trang điểm, trên mặt bàn có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh) bên trong nỏ thủy tinh có chứa chất màu nâu. Chia S và N khai nhận chất màu nâu trong nỏ thủy tinh là ma túy đá. Vì vậy, lực lƣợng Công an phƣờng D lập biên bản và thu giữ tang vật.
Sau đó, thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D phối hợp tiến hành khám xét khẩn cấp phòng 202. Qua khám xét khẩn cấp, phát hiện dƣới gối trên đầu giƣờng có 01 cái bóp da màu đỏ - trắng, trong bóp có 01 túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể màu trắng, Chia S và N khai nhận sự việc nhƣ trên, đồng thời xác định các tinh thể màu trắng trong túi nylon là ma túy đá. Nên lực lƣợng Công an phƣờng D tiến hành hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.
Theo Bản kết luận giám định số 671/KL-KTHS(MT) ngày 31/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lƣợng: 0,1331 gam (M1); 0,2752 gam (M2).
Ngày 01/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ban hành Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Chia S, Nguyễn Đình N và ban hành Lệnh tạm giam đối với Chia S, Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú đối với Nguyễn Đình N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” để điều tra.
Qúa trình điều tra, Nguyễn Đình N bỏ trốn nên ngày 30/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Nguyễn Đình N để điều tra, xử lý riêng.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) cái bóp da màu đỏ - trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh.
Tại cáo trạng số 19/CT - VKS ngày 11 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Chia S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Chia S mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đối với ma túy loại methamphetamine có khối lƣợng còn lại sau giám định là 0,0757 gam (M1); 0,2456 gam (M2); 01 (một) nỏ thủy tinh, 01 (một) chai nhựa, 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) cái bóp da màu đỏ - trắng đã sử dụng vào việc cất giấu ma túy không còn giá trị sử dụng thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với ngƣời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán bán ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh) cho Chia S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Chia S không tranh luận, đối đáp gì. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, ngƣời chứng kiến không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xác minh lý lịch đối với Chia S, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã thực hiện yêu cầu tƣơng trợ tƣ pháp về hình sự nhƣng đã hết thời hạn điều tra, truy tố mà chƣa nhận đƣợc kết quả. Vì vậy, việc xác định lý lịch đối với Chia S là sử dụng hộ chiếu và lời khai của bị cáo để xác định nhân thân, lý lịch của bị cáo.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình tố tụng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, tại khách sạn “Rạng Đông 99” số B đƣờng số D, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Chia S đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphatamine có tổng khối lƣợng: 0,4083 gam. Hành vi của Chia S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 19/CT - VKS ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của nhà nƣớc về quản lý chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tiền án, tiền sự, nhân thân: chƣa có kết quả xác minh lý lịch tƣ pháp.
Hình phạt chính: từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xử lý vật chứng: xét ma túy loại methamphetamine có khối lƣợng còn lại sau giám định là 0,0757 gam (M1); 0,2456 gam (M2); 01 (một) nỏ thủy tinh, 01 (một) chai nhựa, 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) cái bóp da màu đỏ - trắng đã sử dụng vào việc cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với ngƣời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán bán ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm 01 chai nhựa, 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh) cho Chia S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
Khách sạn “Rạng Đông 99” số B đƣờng số D, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã ngƣng hoạt động. Đối với chủ nhà trọ khách sạn “Rạng Đông 99” số B đƣờng số D, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng là bà Hoàng Thị Lƣu K còn sinh sống tại nơi cƣ trú nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố D không làm việc đƣợc.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp.
Án phí sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Chia S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Chia S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/01/2024.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Chia S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hiền |