vanban.org

Bản án 10/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 09/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Á phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt Võ Văn Á 36(Ba mươi sáu) tháng. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/9/2024. Xử phạt Nguyễn Tiến D2(Mười tám tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Á phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2025/HS-ST
Ngày: 09 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Tuấn Ngọc

Ông: Mai Văn Ba

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở UBND phường H, quận N xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo: 1. Võ Văn Á; Giới tính: nam; sinh ngày:13/8/1990, tại: Quảng nam; HKTT và nơi ở hiện nay: khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 9/12. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:Ngày 14/4/2017, bị TAND thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2018; đã nộp án phí HSST. cha Võ Văn X (đã chết); mẹ Lê Thị T. Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm. Bị cáo chưa có gia đình. Bị cáo bị bắt ngày 20/9/2024 hiện đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa. 2. Nguyễn Tiến D; Giới tính: nam; sinh ngày: 25/6/1993, tại: Hà Tĩnh; HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 9/12; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 06/4/2020, bị Công an quận N xử phạt hành chính số tiền 2.250.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép tài sản của người khác và sử dụng trái phép chất ma túy”. cha: Nguyễn Tiến V (đã chết) và tên mẹ: Mai Thị H. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư;vợ: Hồ Thị Bích L. Bị cáo có 01 con, sinh năm 2013. Bị cáo bị bắt 20/9/2024 đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa . Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị Thùy D1, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Tổ E, phường H, quận N, TP Đà Nẵng, vắng mặt.

- Anh Trần Văn H1, sinh năm: 1995 (Cửa hàng điện thoại Văn Huy). Địa chỉ: Số B đường T, phường H, quận N, TP Đà Nẵng, vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1968. Địa chỉ: phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1991. Địa chỉ: P, Q, Q, Quảng Nam, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/9/2024, H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản zalo “Lê Thị Thùy D1” liên hệ qua tài khoản zalo “Nguyễn Tiến D” rủ D qua nhà trọ của H1 tại khu vực chợ K (P . H, Q.N, TP.Đà Nẵng) sử dụng ma túy thì D đồng ý và bắt G đến nhà H1. Tại đây, H1 liên hệ với tài khoản zalo “Quậy Què Điện Ngọc” của Võ Văn Á hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá và hẹn giao dịch tại khu vực bến xe Việt H đường T, P . H, Q.N, TP.Đà Nẵng thì Á đồng ý và yêu cầu H1 chuyển khoản tiền mua ma túy vào số tài khoản 0901734851ngân hàng MB của Á nên H1 sử dụng hình thức chuyển khoản M mang tên Lê Thị Thùy D1 chuyển vào tài khoản 8832643285 ngân hàng MB của D số tiền 700.000 đồng. Do D để điện thoại tại cửa hàng điện thoại Văn H1 nên nhờ Ú (không rõ nhân thân, lai lịch) chở H1 và D đến cửa hàng Đ để lấy điện thoại chuyển khoản số tiền 700.000 đồng nhận được từ H1 đến tài khoản của Á. Sau khi nhận được tiền, Á liên hệ với một đối tượng tên V1 (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 800.000 đồng ma túy đá thì V1 đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực cầu T, P.Điện Ngọc,TX.Điện Bàn, T.Quảng Nam. Sau đó, Á điều khiển xe mô tô hiệu Wave gắn BKS: 92H5-6461 đến điểm hẹn gặp V1 lấy ma túy đem đến bãi đất trống tại P.Điện Ngọc chia thành 02 gói (01 gói Ánh để trong ốp điện thoại ; 01 gói Á cầm trong tay trái) rồi đến điểm hẹn gặp H1 và D để bán ma túy thì bị bắt quả tang và thu giữ tang vật của Võ Văn Á: 01 gói nilong bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. 01 gói nilong bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng (thu giữ trong ốp điện thoại của Á), 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, gắn sim số 0901.734.851;01 xe mô tô hiệu Wave gắn BKS: 92H5-6461. Tang vật tạm giữ của anh Trần Văn H1 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng, không gắn sim ( D đang sửa tại tiệm của anh H1).

* Theo Kết luận giám định số 782/ KL-KTHS ngày 27/9/2024 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận: Tinh thể rắn màu trắng trong mẫu ký hiệu V1,D1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu V1 là 0,355 gam; D1 là 0,235 gam. H3 lại đối tượng giám định gồm 0,288 gam mẫu V1; 0,174 gam mẫu D1 và bao gói mẫu.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 127/CT- VKS ngày 26/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Võ Văn Á về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh như đã nói trên đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

a/ Tuyên bố: Võ Văn Á phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Nguyễn Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Võ Văn Á từ 30 tháng đến 36 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Tiến D từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2024.

b/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy gồm: 02 bì thư trắng niêm phong kín ký hiệu V1,D1 là mẫu giám định hoàn trả của phòng K1 và 01 sim số 0901.734.851.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Wave màu xanh BKS 92K7-7935; số máy: LC152FMH02098961 số khung:VHLPCH0031H003756, dung tích 108cm3(của Võ Văn Á); 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng, không gắn sim ký hiệu D2; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024.

- Ngoài ra, Võ Văn Á và Nguyễn Tiến D còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an quận N đã xử phạt hành chính là có căn cứ.

- Đối với đối tượng tên V1 có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Á; đối tượng tên H1 và đối tượng tên Ú, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận N, thành phố Đà Nẵng sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.

- Đối với chị Lê Thị Thùy D1 có hành vi cho H1 mượn điện thoại để liên lạc với D và mượn tiền để chuyển khoản mua ma túy, nhưng chị D1 không biết việc H1 mượn điện thoại và tiền để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận N, thành phố Đà Nẵng không xử lý là có căn cứ.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Á và D đều đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo chấp hành án tốt sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Võ Văn Á và Nguyễn Tiến D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định như sau: Lúc 19 giờ 45 phút ngày 20/9/2024, tại khu vực trước bến xe Việt H đường T, P . H, Q.N, TP.Đà Nẵng, Võ Văn Á đang có hành vi bán trái phép 0,235 gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Tiến D thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận N, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang. Ngoài ra, còn tạm giữ của Á 0,355 gam ma túy loại Methamphetamine Ánh tàng trữ nhằm mục đích bán nhưng chưa bán được.

Như vậy, Võ Văn Á phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 0,59 gam ma túy loại Methamphetamine về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Nguyễn Tiến D phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 0,235 gam ma túy loại Methamphetamine về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Võ Văn Á về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét hành vi phạm tội thì thấy: Bị cáo Võ Văn Á có hành vi bán trái phép 0,235 gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Tiến D thì bị phát hiện. Ngoài ra, còn tạm giữ của Á 0,355 gam ma túy loại Methamphetamine Ánh tàng trữ nhằm mục đích bán nhưng chưa bán được. Các hành vi này là lỗi cố ý đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được qui định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Tiến D có hành vi mua 700.000 đồng ma túy để sử dụng và đã chuyển tiền vào tài khoản cho Á, hành vi này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất vụ án thấy: Ma túy là một loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý nên đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt sử dụng trái phép các chất ma túy, nếu ai vi phạm một trong các quy định trên, gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật trừng trị và xử lý. Các bị cáo bị cáo nhận thức được điều đó, song để có tiền phục vụ cho nhu cầu bản thân, bị cáo Võ Văn Á vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, còn bị cáo Nguyễn Tiến D vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nói trên. Hành vi các bị cáo gây ra là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc.

Xét nhân thân của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Võ Văn Á chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Võ Văn Á có nhân thân xấu, ngày 14/4/2017, bị TAND thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”(Chấp hành xong bản án);Bị cáo Nguyễn Tiến D chưa có tiền án tiền sự, nhân thân năm 2020 đã từng bị Công an quận N xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép tài sản của người khác và sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn rõ ràng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Riêng bị cáo Võ Văn Á có mẹ là thương binh và được tặng huân chương kháng chiến nên áp dụng thêm khoản 2 cho bị cáo được hưởng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.

Các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- 02 bì thư trắng niêm phong kín ký hiệu V1 D1 là mẫu giám định hoàn trả của phòng K1 và 01 sim số 0901.734.851. Các vật chứng này liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy .

- 01 xe mô tô hiệu Wave màu xanh biển kiểm soát 92K7-7935; số máy: LC152FMH02098961 số khung: VHLPCH0031H003756, dung tích 108cm3; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng, không gắn sim ký hiệu D2; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, các vật chứng này còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024.

Ngoài ra, Võ Văn Á và Nguyễn Tiến D còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an quận N đã xử phạt hành chính là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên V1 có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Á; đối tượng tên H1 và đối tượng tên Ú, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận N, thành phố Đà Nẵng sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.

Đối với chị Lê Thị Thùy D1 có hành vi cho H1 mượn điện thoại để liên lạc với D và mượn tiền để chuyển khoản mua ma túy, nhưng chị D1 không biết việc H1 mượn điện thoại và tiền để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận N, thành phố Đà Nẵng không xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Á phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Võ Văn Á 36(Ba mươi sáu) tháng. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/9/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Tiến D2(Mười tám tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/9/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 bì thư trắng niêm phong kín ký hiệu V1, D1 là mẫu giám định hoàn trả của phòng K1 và 01 sim số 0901.734.851.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Wave màu xanh BKS 92K7-7935; số máy: LC152FMH02098961 số khung:VHLPCH0031H003756, dung tích 108cm3; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng, không gắn sim ký hiệu D2; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024.

3/ Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ