vanban.org

Bản án 10/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2025. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST
Ngày 27 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khuyên, bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Cảnh, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9- Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 7 năm 2025 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh năm 1981; Nơi sinh: tỉnh Nam Định (nay tỉnh Ninh Bình); nơi thường trú: Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Tổ dân phố 3, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay Tổ dân phố 3, xã K, tỉnh Lâm Đồng); nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị L, sinh năm: 1957; có vợ Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1983 và 04, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/7/2019, bị Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 72/QĐ-XPHC ngày 31/7/2019, đã chấp hành xong. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2025, đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực số 7- Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lâm Đồng - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Hồng H, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông (nay Tổ dân phố 3, xã K, tỉnh Lâm Đồng) – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 25/4/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn D đã sử dụng điện thoại di động gọi điện thoại cho Lê Văn H, trú tại thôn 14, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông hỏi mua ma túy. Sau đó D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18S5-6189 đi từ thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông đến nhà H, trên đường đi D vào tiệm bán thuốc tây không nhớ rõ địa chỉ cụ thể, để mua 03 bơm kim tiêm loại 03ml/cc và 01 lọ thủy tinh đựng nước cất bên trên trên lọ có in chữ “NOVOCAIN 3%” để sử dụng với ma túy. Sau đó D tiếp tục đi đến nhà H ngoài cổng và đưa cho H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và được H đưa lại cho 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất rắn màu trắng đục. D dùng tay bên phải để lấy gói giấy bạc, bên trong có chứa chất rắn màu trắng đục mà H đưa cho. Sau đó, D ngậm gói giấy bạc vào trong miệng, rồi đeo khẩu trang và điều khiển xe quay về huyện K, tỉnh Đắk Nông. Đến 08 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Nguyễn Thị Đ thuộc bon U2, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông thì D bị lực lượng Công an tỉnh Đắk Nông tiến hành kiểm tra phát hiện 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có chứa chất rắn màu trắng ở trong miệng của D. Cơ quan CSĐT công an tỉnh Đắk Nông đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Văn D cho kết quả dương tính với ma túy loại Heroine, D khai nhận sử dụng ma túy vào ngày 24/4/2025 tại tổ dân phố 3, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc bên trong chứa chất rắn màu trắng đục, thu giữ trong miệng của Nguyễn Văn D được niêm phong trong bì thư ký hiệu “A”; 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím cứng, bên ngoài có in chữ “Itel”, màu đỏ, được niêm phong trong bì thư có chữ ký của Lê Cảnh V, Y Tham B, Đặng Quốc T, Nguyễn Văn D, Huỳnh Thế D và dấu mộc đỏ của Công an thị trấn Ea T’Ling; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Boss, màu nâu, biển kiểm soát: 18S5-6189, số khung: VMEPCG123ME202081, số máy: VMESE1201659; 03 (ba) bơm kim tiêm loại 03ml/cc, trong đó: 01 (một) bơm kim tiêm đã qua sử dụng và 02 (hai) bơm kim tiêm còn nguyên bao gói nilon bên ngoài; 01 (một) lọ thủy tinh trong suốt chứa dung dịch trong suốt, bên trên trên lọ có in chữ “NOVOCAIN 3%”.

Tại Bản kết luận giám định số 168/KL-KTHS, ngày 28/4/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc được niêm phong trong bì thư ký hiệu “A” gửi giám định là ma tuý; loại Heroine; có khối lượng mẫu là 0,1662 gam.

Cáo trạng số 02/CT-VKS-KV9, ngày 15/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Lâm Đồng và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Lâm Đồng thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 02/CT-VKS-KV9, ngày 15/7/2025. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông về việc trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Boss, màu nâu, biển kiểm soát: 18S5-6189, số khung: VMEPCG123ME202081, số máy: VMESE1201659, cho chị Phạm Thị Hồng H là chủ sở hữu hợp pháp.

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,1488 gam chất rắn màu trắng còn lại sau giám định (loại Heroine); 03 (ba) bơm kim tiêm loại 03ml/cc, trong đó: 01 (một) bơm kim tiêm đã được mở bao gói nilon bên ngoài và 02 (hai) bơm kim tiêm còn nguyên bao gói nilon bên ngoài; 01 (một) lọ thủy tinh trong suốt chứa dung dịch trong suốt, bên trên trên lọ có in chữ “NOVOCAIN 3%”.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím cứng, bên ngoài có in chữ “Itel”, màu đỏ, được niêm phong trong bì thư có chữ ký của Lê Cảnh V, Y Tham B, Đặng Quốc T, Nguyễn Văn D, Huỳnh Thế D và dấu mộc đỏ của Công an thị trấn Ea T’Ling, huyện Cư Jút.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Nông (nay Công an tỉnh Lâm Đồng), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào lúc 08 giờ 45 phút, ngày 25/4/2025, tại đoạn đường Nguyễn Thị Đ thuộc bon U2, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (nay bon U2, xã C, Lâm Đồng) lực lượng Công an tỉnh Đắk Nông (nay Công an tỉnh Lâm Đồng) bắt quả tang Nguyễn Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong miệng của D 01 (một) gói ma túy, loại Heroine; có khối lượng là 0,1662 gam.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, việc tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nên nhận thức được rất rõ tác hại và sự nguy hiểm của chất ma túy khi sử dụng sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bản thân, ảnh hưởng gia đình và xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, việc sử dụng chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác. Do đó, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự là vào ngày 31/7/2019, bị Công an huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 72/QĐ-XPHC ngày 31/7/2019.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn D có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, không có điều kiện về kinh tế nên không áp dụng.

. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo chưa đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Đối với hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn D vào ngày 25/4/2025 của Lê Văn H, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông (nay là Công an tỉnh Lâm Đồng) đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Văn H về tội Mua bán trái phép chất ma túy để điều tra trong một vụ án khác nên không đề cập xử lý.

. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn D vào ngày 24/4/2025 tại tổ dân phố 3, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, ngày 26/6/2025 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đắk Nông tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với D số tiền 1.500.000 đồng.

. Đối với việc Nguyễn Văn D khai nhận trước khi thực hiện hành vi mua ma túy 25/4/2025 của Lê Văn H nhiều lần, nhưng không nhớ rõ thời gian cụ thể. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông (nay Công an tỉnh Lâm Đồng) đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không chứng minh được. Vì vậy, không có căn cứ xử lý.

. Đối với chị Phạm Thị Hồng H cho bị cáo Nguyễn Văn D mượn xe mô tô BKS18S5-6189 vào ngày 25/4/2025 nhưng chị H không biết bị cáo D mượn xe vào mục đích mua ma túy về sử dụng nên không có căn cứ để xử lý.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông về việc trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Boss, màu nâu, biển kiểm soát: 18S5-6189, số khung: VMEPCG123ME202081, số máy: VMESE1201659, cho chị Phạm Thị Hồng Hằng là chủ sở hữu hợp pháp.

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,1488 gam chất rắn màu trắng còn lại sau giám định; 03 (ba) bơm kim tiêm loại 03ml/cc, trong đó: 01 (một) bơm kim tiêm đã được mở bao gói nilon bên ngoài và 02 (hai) bơm kim tiêm còn nguyên bao gói nilon bên ngoài; 01 (một) lọ thủy tinh trong suốt chứa dung dịch trong suốt, bên trên trên lọ có in chữ “NOVOCAIN 3%”.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím cứng, bên ngoài có in chữ “Itel”, màu đỏ, được niêm phong trong bì thư có chữ ký của Lê Cảnh V, Y Tham B, Đặng Quốc T, Nguyễn Văn D, Huỳnh Thế D và dấu mộc đỏ của Công an thị trấn Ea T’Ling, huyện Cư Jút.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D thuộc hộ nghèo, cận nghèo có đơn xin miễn án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Do đó bị cáo Nguyễn Văn D được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông về việc trả lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Boss, màu nâu, biển kiểm soát: 18S5-6189, số khung: VMEPCG123ME202081, số máy: VMESE1201659, cho chị Phạm Thị Hồng H là chủ sở hữu hợp pháp.

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,1488 gam chất rắn màu trắng còn lại sau giám định; 03 (ba) bơm kim tiêm loại 03ml/cc, trong đó: 01 (một) bơm kim tiêm đã được mở bao gói nilon bên ngoài và 02 (hai) bơm kim tiêm còn nguyên bao gói nilon bên ngoài; 01 (một) lọ thủy tinh trong suốt chứa dung dịch trong suốt, bên trên trên lọ có in chữ “NOVOCAIN 3%”.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím cứng, bên ngoài có in chữ “Itel”, màu đỏ, được niêm phong trong bì thư có chữ ký của Lê Cảnh V, Y Tham B, Đặng Quốc T, Nguyễn Văn D, Huỳnh Thế D và dấu mộc đỏ của Công an thị trấn Ea T’Ling, huyện Cư Jút.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9-Lâm Đồng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Bị cáo Nguyễn Văn D được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014”.

Cỡ chữ