- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bá L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bá L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 20-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đăng Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quang Dưỡng và bà Lê Thị Loan.
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Trần Thị Thuỳ Dương.
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Đăng C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Hoàng Văn V - Kiểm sát viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Bà Lê Thị Thùy D - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử của Toà án nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị; địa chỉ: Số F N, phường Q, tỉnh Quảng Trị và điểm cầu thành phần: Hội trường xét xử của Toà án nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị; địa chỉ: Số F N, xã T, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức phiên tòa trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị đối với bị cáo:
LÊ BÁ L, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1998, tại Quảng Trị; số CCCD: 045xxxxxx; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn L, xã N, tỉnh Quảng Trị); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá K, sinh năm 1970 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978, đều trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn L, xã N, tỉnh Quảng Trị); có vợ: Hồ Thị Ánh H1, sinh năm 1999, trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn L, xã N, tỉnh Quảng Trị) và có 01 người con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2025 cho đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị Ánh K1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn I, xã N, tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 23/4/2025 khi đang ở thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, L nảy sinh ý định mua ma túy đưa về nhà cất giấu để sử dụng. Lê Bá L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74D1-209.95 do L mượn của chị Hồ Thị Ánh K1 đến khu vực cầu vượt đường sắt ở thành phố Đ. Tại đây, L gặp một nam thanh niên không rõ lai lịch mua 200.000 đồng ma túy loại hồng phiến, người này đồng ý và đưa cho L một đoạn ống hút nhựa màu xanh, bên trong chứa 06 viên nén màu hồng. L nhận lấy ma tuý rồi điều khiển xe mô tô về nhà của mình ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn L, xã N, tỉnh Quảng Trị) cất giấu để sử dụng. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/4/2025, L mang theo số ma tuý nêu trên và dụng cụ sử dụng ma tuý rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74D1-209.95 đến khu vực rú L thuộc thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn L, xã N, tỉnh Quảng Trị) để sử dụng. L một mình sử dụng hết 02 viên, còn lại 04 viên. Khoảng 09 giờ ngày 24/4/2025, Tổ công tác Công an xã T phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Q phát hiện, bắt quả tang Lê Bá L, đồng thời tạm giữ toàn bộ tang vật liên quan.
Tại Kết luận giám định số 524/KL-KTHS ngày 02/5/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: 04 viên nén màu hồng gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,36 gam. Methamphetamine là chất ma túy quy định tại Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV6 ngày 16/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 đã truy tố bị cáo Lê Bá L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Bá L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 12 đến 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 24/4/2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy được hoàn trả sau giám định, một đoạn ống hút nhựa màu xanh dài 05 cm; một bật lửa màu đỏ trên thân có chữ 555VIP; một chai nhựa màu trắng trên thân chai có chữ Revive, phía bên thân chai có đục 01 lỗ nhỏ gắn 01 tờ giấy cuộn tròn hình trụ, vì đây là vật cấm lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo điện thoại di động màu tím đen, nhãn hiệu SAMSUNG số IMEI 1: 351662613464553, IMEI 2: 352465213464554.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Ánh K1 trình bày: Ngày 23/4/2025, bị cáo L tự ý lấy xe xe mô tô biển kiểm soát 74D1-209.95 của bà thực hiên hành vi phạm tội, bà K1 không hề biết, nay bà đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì thêm.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Khoảng 09 giờ ngày 24/4/2025 tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn L, xã N, tỉnh Quảng Trị), Lê Bá L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,36gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi nói trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời nhằm cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đảm bảo giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm. Bị cáo đang bị tạm giam nên tiếp tục tạm giam để đảm bảo thi hành án.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh người thanh niên đã bán ma túy cho Lê Bá L tại thành phố Đ nhưng không có kết quả, khi nào xác minh được sẽ xem xét xử lý sau.
Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Đối với một túi niêm phong sau khi giám định, ký hiệu 524/2025/PC09, bên trong: chứa chất bột màu hồng có khối lượng 0,32 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng bao gói và một đoạn ống hút nhựa màu xanh dài 05cm hoàn lại sau giám định của Phòng K2 Công an tỉnh Q; 01 bật lửa màu đỏ trên thân có chữ 555VIP; 01 chai nhựa màu trắng trên thân chai có chữ Revive, phía bên thân chai có đục 01 lỗ nhỏ gắn 01 tờ giấy cuộn tròn hình trụ đây là vật cấm tàng trữ lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu tím đen, số IMEI 1: 351662613464553, IMEI 2: 352465213464554 của bị cáo Lê Bá L. Quá trình giải quyết vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng, điện thoại này không liên quan vụ án vì vậy cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Bá L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Xử phạt: Bị cáo Lê Bá L 12 (mười hai) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ 24/4/2025.
3. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ Một túi niêm phong ký hiệu 524/2025/PC09, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K2 Công an tỉnh Q, bên trong túi chứa mẫu vật còn lại sau giám định (chất bột màu hồng có khối lượng 0,32 gam là ma túy loại Methamphetamine, ống hút nhựa và bao gói hoàn lại sau giám định).
+ Một bật lửa màu đỏ trên thân có chữ 555VIP; một chai nhựa màu trắng trên thân chai có chữ Revive, phía bên thân chai có đục 01 lỗ nhỏ gắn 01 tờ giấy cuộn tròn hình trụ.
- Trả lại cho bị cáo Lê Bá L một điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu tím đen, số IMEI 1: 351662613464553, IMEI 2: 352465213464554.
(Các vật chứng hiện đang có tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 7 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Quảng Trị).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Bá L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo Lê Bá L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Ánh K1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Quảng Trị; - VKSND khu vực 6-Quảng Trị; - THADS tỉnh Quảng Trị; - THAHS; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Đăng Khoa |