- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh V - Tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày: 22/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Chí Cường Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Ngọc Hải
2. Ông Trừ Trung Tín
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Điền – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3-Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3-Vĩnh Long tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/HSST ngày 25/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh V, sinh ngày 24/9/2004 tại B,Vĩnh Long; Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú hiện nay: Tổ A, ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978; Vợ, con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B từ ngày 10/4/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú hiện nay: Tổ A, ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 09/4/2025, Nguyễn Thanh V điều khiển xe mô tô biển số 64H4-4228 đến khu vực bờ kè thuộc khóm B, phường T, thị xã B (nay là phường B, tỉnh Vĩnh Long) gặp một thanh niên tên Hậu E (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) mua 02 bịch ma túy với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì V đem về cất giấu dưới gốc cây xanh trước vựa mít “Yến Nhi” thuộc ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long rồi về nhà ngủ.
Đến khoảng 06 giờ ngày 10/4/2025, V điều khiển xe mô tô biển số 64K1-377.26 đi từ nhà đến vựa mít “Yến Nhi”, lấy ma túy đã cất giấu ra sử dụng. Vĩ lấy 01 bịch ma túy ra sử dụng nhưng không hết nên hàn kín lại, cất giấu 02 bịch ma túy vào trong cốp xe mô tô biển số 64K1-377.26 để sử dụng tiếp rồi chạy xe về nhà. Đến 13 giờ 05 phút cùng ngày, Công an xã T đến nhà V tại tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long để kiểm tra thì V thừa nhận có cất giấu 02 bịch ma túy trong cốp xe. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra xe mô tô biển số 64K1-377.26 thì phát hiện trong cốp xe có cất giấu 02 bịch nylon màu trắng bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy nên tiến hành tạm giữ và niêm phong lại có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thanh V.
Căn cứ kết luận giám định số 245/KL-KTHS ngày 14/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4099 gam, loại Methamphetamine.
Xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và ra Lệnh tạm giam để điều tra.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh V nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSBT ngày 24/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3-Vĩnh Long) đã truy tố Nguyễn Thanh V để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
Bị cáo Nguyễn Thanh V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo có tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Chị Nguyễn Thị Ngọc Y có ý kiến: Chị yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 64K1-377.26 và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Ngoài ra, Chị không có ý kiến gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3-Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho Bị cáo.Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 245 bên trong có chứa vỏ bao gói và chất ma tuý còn lại sau giám định; 01 xe mô tô biển số 64K1 – 377.26 của chị Nguyễn Thị Ngọc Y cho V mượn sử dụng, chị Y không biết việc V sử dụng xe để tàng trữ ma tuý nên cần trả lại xe mô tô nêu trên cho chị Y. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Nguyễn Thanh V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 09/4/2025 Bị cáo V muốn sử dụng trái phép chất ma tuý nên điều khiển xe mô tô biển số 64H4-4228 đến khu vực bờ kè thuộc phường T mua 02 bịch ma tuý đem về cất giấu dưới gốc cây trước vựa mít Yến N, đến khoản 06 giờ ngày 10/4/2025 V mượn xe mô tô biển số 64K1 - 377.26 của chị Nguyễn Thị Ngọc Y đi từ nhà đến chổ vựa mít lấy ma tuý đã cất giấu trước đó ra sử dụng thì bị lực lượng Công an xã T tiến hành kiểm tra bắt quả tang thì V thừa nhận có tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Căn cứ kết luận giám định, khối lượng ma túy thu giữ của V có khối lượng là 0,4099 gam (loại: Methamphetamine). Do đó, bị cáo V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015;
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng:
- 01 gói niêm phong số 245 bên trong có chứa vỏ bao gói và chất ma tuý còn lại sau giám định là 0,3510 gam cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 xe mô tô biển số 64K1 – 377.26 của chị Nguyễn Thị Ngọc Y cho V mượn sử dụng, chị Y không biết việc V sử dụng xe để tàng trữ ma tuý nên cần trả lại xe mô tô nêu trên cho chị Y.
Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
-Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh V 02 (Hai) năm tù.Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 10/4/2025.
Miễn hình phạt bổ sung cho Bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 245 bên trong có chứa vỏ bao gói và chất ma tuý còn lại sau giám định là 0,3510 gam.
- Trả lại 01 xe mô tô biển số 64K1 – 377.26 cho chị Nguyễn Thị Ngọc Y
(theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2025 của Phòng Thi hành án Khu vực 3, tỉnh Vĩnh Long)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4.Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL: 01; - VKSND tỉnh VL:01; - VKSND KV3-VL: 01; - Phòng THA KV3-VL: 01; - Công an xã Tân Quới: 01; - Phòng Hồ sơ CA.T.Vĩnh Long: 01; - Văn phòng CA.T.Vĩnh Long: 01; - UBND xã Tân Quới: 01; - Trại giam CA.T.Vĩnh Long: 01; - Sở Tư pháp TVL: 01; - Bị cáo: 01; NQLNVLQ: 01; - Lưu: 06. | Phan Chí Cường |