- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và h nh phạt chính: Căn cứ vào điểm c hoản 1 Điều 249, điểm s hoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật H nh sự,
- Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Tố t ng h nh sự; Điều 136 Bộ luật Tố t ng h nh sự; Điều 331 Bộ luật Tố t ng h nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 23-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị B nh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Toàn
Bà Phạm Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị T nh – Thư T a án nhân dân hu vực 3-Hải Ph ng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-H i hòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm
5 tại tr s T a án nh n d n hu vực 3 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công hai v án h nh sự sơ thẩm th l số: 95/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm
5 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 25 đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 03/3/1981 tại Điện Biên. Nơi đăng thường trú: Bản C, xã Th, huyện Điện Biên (nay là bản C, xã Th), tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ văn hoá: Lớp 2/12; d n tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L Văn S và bà L Thị P; có vợ là Lường Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 4/1 / 4, đến ngày 02/01/2 5 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Ph ng (nay là Trại tạm giam số 1-Công an thành phố Hải Ph ng); có mặt.
- Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị Th; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng giờ 3 phút ngày 4/1 / 4, tổ công tác Công an quận Hồng Bàng làm nhiệm v tại hu vực trước cửa nhà số 156 phố Hàm Nghi, phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Ph ng phát hiện L Văn T có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Tổ công tác tiến hành iểm tra phát hiện và thu giữ trong l ng bàn tay phải của T có 1 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba, bên trong có 1 gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng dạng c c nghi là ma túy. Lực lượng Công an đã đưa T cùng toàn bộ tang vật về tr s lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, lực lượng Công an c n thu giữ 1 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen (đã qua sử d ng) và số tiền 55 . đồng trên người L Văn T.
Tại bản Kết luận giám định số 1444/TB-KTHS ngày 3 /1 / 4 của Ph ng Kỹ thuật h nh sự Công an thành phố Hải Ph ng ết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,185 gam là loại Heroine (Heroin)”.
Tiến hành iểm tra nước tiểu của L Văn T m tính với các chất ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, L Văn T hai nhận: Do bản th n nghiện ma túy Heroine, nên hoảng 19 giờ phút ngày 4/1 / 4 T gọi điện thoại cho một người nam giới lưu trong danh bạ điện thoại là “Em” có số điện thoại 9 6491 1 để mua . đồng ma túy Heroine. Người nam giới này đồng bán và hẹn đến hu vực đường Hàm Nghi, phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Ph ng để giao dịch. Tại đ y, người nam giới đưa cho T 1 gói bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba. Mua được ma tu T cầm vỏ bao thuốc bằng tay phải, hông m ra xem nhưng biết bên trong có chứa ma túy Heroine. Khi đang chuẩn bị cất ma tu và thanh toán tiền th bị lực lượng Công an iểm tra, bắt giữ c n người nam giới bán ma túy cho T bỏ chạy. M c đích T mua ma tu về để sử d ng cho bản thân, ngoài ra hông c n m c đích nào hác.
Tiến hành m iểm tra điện thoại của L Văn T, ết quả vào lúc 18 giờ 59 phút ngày 4/1 / 4 phát sinh 1 cuộc gọi từ số điện thoại 34443 734 của T đến số điện thoại 9 6491 1 được lưu trong danh bạ điện thoại là “Em”, phù hợp với lời hai của T.
Về vật chứng: Chuyển Chi c c thi hành án d n sự quận Hồng Bàng
- 1 b giấy dán ín trong chứa số ma túy c n lại sau giám định và vỏ bao b có dấu niêm phong số 1444MT/PC 9 của Ph ng Kỹ thuật H nh sự Công an thành phố Hải Ph ng;
- 1 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba, 1 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử d ng và số tiền 55 . đồng thu giữ của L Văn Tỉnh.
Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKSHB ngày 16/6/2025 của Viện iểm sát nh n d n quận Hồng Bàng, thành phố Hải Ph ng đã truy tố L Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c hoản 1 Điều 49 của Bộ luật H nh sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nh n d n quận Hồng Bàng, thành phố Hải Ph ng (nay là Viện iểm sát nh n d n hu vực 3–Hải Ph ng) thực hành quyền công tố tại phiên toà tr nh bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố L Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp d ng điểm c hoản 1 Điều 49, điểm s hoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật H nh sự, xử phạt bị cáo mức án từ 24 tháng tù đến 3 tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 24/12/2024.
- Về h nh phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hông có tài sản riêng nên đề nghị miễn áp d ng h nh phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về xử l vật chứng: Áp d ng Điều 47 Bộ luật H nh sự và Điều 1 6 Bộ luật Tố t ng h nh sự,
+ Tịch thu tiêu hủy 1 b giấy dán ín trong chứa số ma túy c n lại sau giám định và vỏ bao b có dấu niêm phong số 1444MT/PC 9 của Ph ng Kỹ thuật H nh sự Công an thành phố Hải Ph ng và 1 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba.
+ Tịch thu nộp ng n sách nhà nước 1 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử d ng và số tiền . đồng thu giữ của L Văn T.
+ Trả lại L Văn T 35 . đồng, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu . (hai trăm ngh n) đồng án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo đã hai nhận toàn bộ hành vi của m nh như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được tr về với xã hội, làm lại cuộc đời, tr thành công d n có ích cho gia đ nh và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng và công an thành phố Hải Ph ng, Điều tra viên, Viện iểm sát nh n d n quận Hồng Bàng (nay là Viện iểm sát nh n d n hu vực 3–Hải Ph ng), Kiểm sát viên: Trong quá tr nh điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố t ng, của người tiến hành tố t ng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ t c, quy định của Bộ luật Tố t ng h nh sự. Quá tr nh điều tra, truy tố và tại phiên t a, bị cáo và những người tham gia tố t ng hác hông có iến hay hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ ] Về tội danh: Lời hai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời hai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, bản Kết luận giám định, lời hai của người chứng iến và các tài liệu, chứng cứ hác có trong hồ sơ v án. Như vậy, đã có đủ cơ s ết luận: Khoảng giờ 3 phút ngày 24/12/2024, tại hu vực trước cửa nhà số 156 phố Hàm Nghi, phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Ph ng, L Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,185 gam ma túy, loại Heroine để sử d ng cho bản th n th bị phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm h nh sự và có đủ năng lực trách nhiệm h nh sự nên hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và h nh phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật H nh sự.
Căn cứ vào hối lượng, loại ma túy bị cáo tàng trữ và các t nh tiết hác của v án xác định bị cáo đã vi phạm điểm c hoản 1 Điều 49 của Bộ luật H nh sự. V vậy, Viện Kiểm sát nh n d n quận Hồng Bàng, thành phố Hải Ph ng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c hoản 1 Điều 49 của Bộ luật H nh sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố trực tiếp, đã x m phạm chế độ quản l của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, g y mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm m c đích giáo d c riêng đối với bị cáo và ph ng ngừa chung.
Về t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Bị cáo không có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật H nh sự.
Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Quá tr nh điều tra và tại phiên t a, bị cáo đã "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được hư ng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 của Bộ luật H nh sự. Tại phiên t a, bị cáo hai có bà ngoại là người có công với cách mạng nhưng hông xuất tr nh được các tài liệu chứng minh nên hông có căn cứ để áp d ng cho bị cáo được hư ng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại hoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự.
Về nh n th n: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bản th n là người d n tộc thiểu số. V vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét vấn đề này hi quyết định h nh phạt đối với bị cáo.
Về h nh phạt chính: Trên cơ s đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo g y nên, căn cứ quy định pháp luật h nh sự, t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức h nh phạt tù thích hợp và cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo d c bị cáo có thức tu n theo pháp luật, đồng thời giáo d c người hác tôn trọng pháp luật.
Về h nh phạt bổ sung: Theo quy định tại hoản 5 Điều 49 của Bộ luật H nh sự th : “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tích thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án và lời hai của bị cáo tại phiên t a thể hiện, bị cáo là lao động tự do, hông có thu nhập ổn định và hông có tài sản riêng. V vậy, Hội đồng xét xử hông áp d ng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo.
[1 ] Về xử l vật chứng:
- Heroine là chất ma túy cấm lưu hành; v vậy, tịch thu tiêu hủy 1 b giấy dán ín trong chứa số ma túy c n lại sau giám định và vỏ bao b có dấu niêm phong số 1444MT/PC 9 của Ph ng Kỹ thuật H nh sự Công an thành phố Hải Ph ng;
- Đối với 1 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba, là vật chứng hông có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 1 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử d ng là công c bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ng n sách nhà nước.
- Đối với số tiền 55 .000 đồng thu giữ của L Văn T, trong đó có 200.000 đồng là tiền T sử d ng để mua ma túy nhưng chưa ịp trả cho người bán ma túy th đã bị bắt nên tịch thu nộp ng n sách nhà nước. Số tiền c n lại 35 . đồng là tiền do T lao động mà có nên trả lại cho L Văn T.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với người nam giới đã bán ma túy cho T, quá tr nh điều tra chưa xác định được nh n th n, lai lịch nên hông có căn cứ xử l .
Tiến hành xác minh đối với số điện thoại 9 6491 1, ết quả chủ thuê bao số điện thoại trên là chị Nguyễn Thị D (sinh năm 1986, nơi thường trú: Lô 402 CL1 MB 1 1 Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hoá). Chị D tr nh bày hông đứng tên đăng và hông sử d ng số thuê bao trên. Vào ngày 24/1 / 4, chị D đang đi làm thành phố Th, tỉnh Thanh Hoá, hông liên lạc mua bán ma tu của bất ỳ ai nên Cơ quan điều tra hông xử l là có căn cứ.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và h nh phạt chính: Căn cứ vào điểm c hoản 1 Điều 249, điểm s hoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật H nh sự,
- Tuyên bố bị cáo L Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày 24/12/2024.
. Về h nh phạt bổ sung: Không áp d ng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử l vật chứng: Căn cứ vào hoản Điều 1 6 của Bộ luật Tố t ng h nh sự, hoản 1 Điều 47 của Bộ luật H nh sự,
- Tịch thu tiêu hủy 1 b giấy dán ín trong chứa số ma túy c n lại sau giám định và vỏ bao b có dấu niêm phong số 1444MT/PC 9 của Ph ng Kỹ thuật H nh sự Công an thành phố Hải Ph ng; 1 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba.
- Tịch thu nộp ng n sách nhà nước 1 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử d ng và số tiền . đồng (hai trăm ngh n đồng) thu giữ của L Văn T.
- Trả lại L Văn T 35 . đồng (ba trăm năm mươi ngh n đồng).
(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 6 năm 2025 và Biên lai thu tiền số 0010230 ngày 18 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-Hải Phong).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố t ng h nh sự; điểm a hoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 3 6/ 16/UBTVQH14 ngày 3 tháng 1 năm 16 của Uỷ ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí Toà án,
Bị cáo L Văn T phải nộp
. đồng (hai trăm ngh n đồng) án phí h nh sự sơ thẩm.
5. Về quyền háng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố t ng h nh sự,
Bị cáo có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều Luật Thi hành án d n sự th người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 3 Luật Thi hành án d n sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND hu vực 3 – Hải Ph ng; - VKSND thành phố Hải Ph ng; - Công an TP. Hải Ph ng; - Cơ quan THAHS Công an TP. Hải Ph ng - Trại tạm giam số 1-Công an TP. Hải Ph ng; - TAND thành phố Hải Ph ng; - Ủy ban nh n d n nơi cư trú của bị cáo; - Phòng PV06 - Công an TP. Hải Ph ng; - Ph ng Thi hành án d n sự hu vực 3 – Hải Ph ng; - Lưu: VT, hồ sơ v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bình |