vanban.org

Bản án 10/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 18/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 10/2025/HS-ST
Ngày: 18-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Việt Tím

2. Ông Trương Văn Sắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/HSST-QĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Minh T - sinh ngày 30/7/1985. Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Số 53, tổ 2, ấp Đ, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Lê Văn C, sinh năm 1940 và bà Cao Thị Đ, sinh năm 1950; Vợ: Nguyễn Thị Hồng O, sinh năm 1981; Con ruột gồm 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015;

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

* Người bị hại: Em Nguyễn Thành L - sinh ngày 19/11/2008 (đã chết)

* Những người đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:

Bà Nguyễn Thị Ngọc M , sinh năm 1989 (có mặt)

Ông Nguyễn Thành T , sinh năm 1984 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Khu phố Đ , thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 06/10/2024, Lê Minh T cùng anh ruột là Lê Văn H và Nguyễn Tấn D (anh cọc chèo của T) tổ chức uống rượu tại nhà của T, cả ba người uống hết 01 (một) lít rượu thì nghỉ, sau đó T và anh H tiếp tục đến nhà của anh Phan Ngọc Tuấn L để uống bia với anh L. Sau khi uống hơn 01 (một) thùng bia thì T nghỉ uống và lên ghế nằm ngủ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T thức dậy lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 55X7-5061 điều khiển theo đường Hùng Vương để về nhà ở xã T , huyện T . Cũng trong khoảng thời gian này, em Nguyễn Thành L (sinh ngày 19/11/2008, nơi cư trú: khu phố Đ, thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang) xin phép mẹ là bà Nguyễn Thị Ngọc M đi đá bóng cùng bạn ở thị trấn T thì được bà M đồng ý. Sau đó, Lợi đi ra trước nhà tự lấy xe gắn máy nhãn hiệu Honciti biển số 68LA-025.13 (xe của cha L sử dụng đi lại hàng ngày) điều khiển theo đường Hùng Vương hướng ra thị trấn T . Khoảng 15 phút sau, Lê Minh T điều khiển xe đến đoạn đường trước nhà số 99 Hùng Vương, khu phố Đ, thị trấn T , thì ngủ gục, xe bị mất lái lấn sang phần đường bên trái 0,875 mét đụng vào xe gắn máy do L điều khiển làm cho cả hai người và xe ngã xuống đường. Hậu quả Nguyễn Thành L bị chấn thương sọ não và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang, Lê Minh T bị chấn thương vùng mặt, đùi phải được đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện T , hai phương tiện đều bị hư hỏng. Lê Minh T điều trị tại Trung tâm Y tế huyện T đến ngày 16/10/2024 thì xuất viện. Riêng Nguyễn Thành L do thương tích nặng được chuyển Bệnh viện Nhân dân 115 tại Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị từ ngày 10/10/2024, nhưng do thương tích nặng không đáp ứng được điều trị, Bệnh viện Nhân dân 115 đã cho Nguyễn Thành L xuất viện về theo nguyện vọng của gia đình vào ngày 28/10/2024. Cùng ngày, Nguyễn Thành L chết tại nhà ở khu phố Đ, thị trấn T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

Tại Bệnh án ngoại khoa số 06914 của Trung tâm Y tế huyện T có phiếu kết quả xét nghiệm ngày 06/10/2024, nồng độ Ethanol (cồn) trong máu của Lê Minh T là 307mg/100ml máu.

Ngày 06/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Minh T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Tại Cơ quan điều tra, Thuận thừa nhận hành vi phạm tội, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA số loại JC43, màu sơn Đỏ-Bạc, số máy: 43E-5036971, số khung: 1AY-504141, biển số 55X7-5061.

+ 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu HONCITI số loại C50-01, màu sơn xanh, số máy: VDP1P39FMB103535, số khung: VDPDCB014DP103535, biển số 68LA-025.13, bị hư hỏng.

+ 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số AQ781100 mang tên Lê Minh T do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2010.

+ 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 002336, biển số 55X7-5061 mang tên Nguyễn Minh T do Công an quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) cấp ngày 28/12/2009.

Tại kết luận giám định số 1285/KL-KTHS, ngày 25/11/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận về nguyên nhân chết của Nguyễn Thành L : Do chấn thương sọ não.

Tại kết luận định giá số 25/KL-HĐĐG, ngày 22/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận thiệt hại của xe gắn máy nhãn hiệu HONCITI số loại C50-01 biển số 68LA-025.13: 3.644.000 đồng (ba triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

* Cáo trạng số 05/CT-VKSTH ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.

* Xử lý đồ vật tài liệu và vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã trả lại các đồ vật, tài liệu và vật chứng cho chủ sở hữu gồm:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA số loại JC43, màu sơn Đỏ-Bạc, số máy: 43E-5036971, số khung: 1AY-504141, biển số 55X7-5061.

+ 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu HONCITI số loại C50-01, màu sơn Xanh, số máy: VDP1P39FMB103535, số khung: VDPDCB014DP103535, biển số 68LA-025.13, bị hư hỏng.

+ 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 002336, biển số 55X7-5061 mang tên Nguyễn Minh T do Công an quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) cấp ngày 28/12/2009.

Theo các Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 696 ngày 30/12/2024; Quyết định xử lý vật chứng số 37 ngày 10/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T .

- Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho bị cáo: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số AQ781100 mang tên Lê Minh T do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2010, đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh số 213/LNK-ĐTTH ngày 10/12/2024.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Minh T đã bồi thường chi phí điều trị, mai táng cho gia đình bị hại Nguyễn Thành L với số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Ngọc M đã nhận và có đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý đối với bị cáo.

Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định tử thi. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/10/2024, bị cáo Lê Minh T (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 55X7-5061 trong máu có nồng độ cồn 307mg/100ml máu (vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019) lưu thông trên đường Hùng Vương theo hướng thị trấn T đi xã T . Khoảng 15 phút sau, Thuận điều khiển xe đến trước số nhà 99 đường Hùng Vương, thuộc khu phố Đ, thị trấn T thì ngủ gục, xe bị mất lái lấn sang phần đường bên trái hướng đi 0,875 mét (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, nay được quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Trật tự, an toàn Giao thông đường bộ năm 2024) đụng vào xe mô tô nhãn hiệu Honciti, biển số 68LA-025.13 do em Nguyễn Thành L điều khiển chạy theo hướng ngược lại. Hậu quả vụ tai nạn làm cho em Nguyễn Thành L bị thương tích và chết vào ngày 28/10/2024 do chấn thương sọ não.

Hành vi của bị cáo Lê Minh T đã vi phạm vào quy tắc giao thông đường bộ được quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 (nay được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ) và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ (nay được quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng con người và tài sản, gây đau thương mất mát không có gì có thể bù đắp được cho gia đình bị hại, gây hoang mang cho người tham gia giao thông. Mặc dù tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, do bị cáo điều khiển xe mà trong máu có nồng độ cồn 307mg/100ml máu, và lấn sang phần đường bên trái của hướng đi 0,875 mét dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông đụng vào xe của bị hại chạy theo hướng ngược lại. Hậu quả làm em Lợi bị thương tích và tử vong do chấn thương sọ não vào ngày 28/10/2024.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội với lỗi vô ý; bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo có bà nội Hồ Thị K và cô ruột Lê Thị H đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huân chương kháng chiến; sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị và mai táng cho gia đình bị hại với số tiền 120.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Ngọc M có đơn bãi nại không yêu cầu xử lý đối với bị cáo, tại phiên toà bà Nguyễn Thị Ngọc M và ông Nguyễn Thành T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, qua đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, việc cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phù hợp với Điều 65 Bộ luật hình sự cũng như thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng thời, Hội đồng xét xử cũng áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chuyển khung hình phạt xử phạt bị cáo bằng mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Minh T đã bồi thường chi phí điều trị, mai táng cho gia đình bị hại Nguyễn Thành L với số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị Ngọc M đã nhận và có đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý đối với bị cáo, nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng theo các Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 696 ngày 30/12/2024; Quyết định xử lý vật chứng số 37 ngày 10/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T cho chủ sở hữu là phù hợp, nên không xem xét.

* Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Lê Minh T: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số AQ781100 mang tên Lê Minh T do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2010.

Đối với việc Nguyễn Thành L chưa đủ 16 tuổi tự ý lấy và điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 68LA-025.13 ông Nguyễn Thành T không hay biết việc L lấy xe chạy và L đã chết nên không xem xét đề nghị xử lý vi phạm hành chính.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Minh T cho Ủy ban nhân dân xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Lê Minh T: 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số AQ781100 mang tên Lê Minh T do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/2010.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 03/QĐ-VKSTH ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Minh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ