- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy K và các bị cáo khác phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm với kháng cáo của bị cáo Trần Công H1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HS-PT Ngày 08/01/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Đình Lực
Các thẩm phán:
Ông Điều Văn Hằng;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Trang, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 408/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Duy K và các bị cáo khác phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, “Đánh bạc”. Do có kháng cáo của các bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
1. Các bị cáo kháng cáo:
1.1. Nguyễn Duy K, sinh năm 1998, tại Hải Phòng; nơi thường trú: Cụm C, T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số A N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Thế K1 và bà Phạm Thị P; có vợ là Đào Như Q và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/12/2022 đến ngày 13/12/2022 chuyển tạm giam; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam – Công an thành phố H; có mặt.
1.2. Nguyễn Hữu T, sinh năm 1998, tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số I D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Hữu C và bà Lê Thị Bích H; có vợ là Trần Hương Q1 và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/12/2022 đến 13/12/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
1.3. Hoàng Thị T1, sinh năm 2001, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn; 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; con ông Hoàng Văn V và bà Phạm Thị T2; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/7/2023 đến nay; có mặt.
1.4. Hoàng Gia B; sinh năm 1994; tại Hải Phòng; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số C+4 B tổ dân phố E, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Tổ dân phố Đ, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Hoàng Văn A và bà Nguyễn Thị Kim O; có vợ là Phạm Thị Q2 (đã ly hôn) và 01 con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/12/2022 đến ngày 13/12/2022 chuyển tạm giam đến ngày 19/10/2023, bị cáo được thay thế áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.
1.5. Trần Công H1, sinh năm 1996, tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số A lô A C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trần Công A1 và bà Trịnh Thị Kim T3; có vợ là Huỳnh Thị Bé P1 và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/12/2022 đến 13/12/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; có mặt.
2. Trong vụ án còn có: Các bị cáo Nguyễn Ngọc Đ, Đỗ Duy C1, Nguyễn Đức B1 có kháng cáo nhưng đã có văn bản rút kháng cáo, Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H nhận được trình báo của công dân tố cáo Nguyễn Duy K sử dụng tài khoản KJ772001, mật khẩu là Abcd1234 để tổ chức cá độ bóng đá. Từ tài khoản trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiến hành điều tra, trích xuất toàn bộ dữ liệu liên quan đến việc cá độ bóng đá của Nguyễn Duy K. Cùng ngày, Nguyễn Duy K đến Phòng C2 Công an thành phố H đầu thú, sau đó lần lượt các bị can Đỗ Duy C1, Hoàng Gia B, Nguyễn Ngọc Đ, Nguyễn Đức B1, Nguyễn Hữu T, Trần Công H1, Hoàng Thị T1 trong đường dây cá độ đến đầu thú và xác nhận tên tài khoản đăng nhập phù hợp với tài liệu, dữ liệu đã được trích xuất. Cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ 01 điện thoại Iphone 12 Promax của Nguyễn Duy K, 01 điện thoại Iphone 13 Promax của Hoàng Gia B, 01 điện thoại 12 Iphone Promax của Nguyễn Ngọc Đ, 01 điện thoại Iphone 11 Promax của Nguyễn Đức B1, 01 điện thoại Iphone 12 Promax của Nguyễn Hữu T, 01 điện thoại Iphone XS max của Trần Công H1.
Tại Cơ quan điều tra các bị can khai nhận: Khoảng tháng 5/2022, Nguyễn Duy K lấy tài khoản cá độ bóng đá KJ772001 của đối tượng tên H2 với giá đô 6000 đồng/điểm và 20.000 đồng/điểm (01 đô = 01 điểm), trả tiền hoa hồng “Com” (01 com = 0,25 đô), hạn mức 40.000 điểm tương ứng với số tiền tối đa 800.000.000 đồng để chia thành các tài khoản cá độ cho các bị can, đối tượng khác trên địa bàn thành phố với giá đô cao hơn để cá độ bóng đá. Cụ thể K đã chia trang bóng cho người chơi cá độ như sau: Tài khoản KJ772001009, Nguyễn Duy K giao cho Nguyễn Ngọc Đ với giá đô 8.000 đồng/điểm. Đ trực tiếp cá độ 08 trận với tổng số tiền 47.680.000 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 30.880.000 đồng. Tài khoản này K thua 2.058.000 đồng; Tài khoản KJ77200100D, Nguyễn Duy K giao cho đối tượng tên Mai Hồng N (chưa xác minh được nhân thân, lai lịch) với giá đô là 50.000 đồng/điểm và cho Hoàng Gia B chung chi với tỷ lệ 1000 đồng/điểm. N trực tiếp cá độ 211 trận với tổng số tiền 390.084.500 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 5.880.000 đồng. Tài khoản này K hưởng lợi 29.783.000 đồng, B hưởng lợi 1.027.000 đồng; Tài khoản KJ77200100K, Nguyễn Duy K giao cho Hoàng Thị T1 với giá đô 30.000 đồng/điểm. T1 trực tiếp cá độ 112 trận với tổng số tiền 145.485.000 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 7.350.000 đồng. Tài khoản này K hưởng lợi 1.700.000 đồng; Tài khoản KJ77200100A, Đỗ Duy C1 nhờ Nguyễn Duy K cắt trang để C1 giao cho Nguyễn Đức B1 với giá đô 50.000 đồng/điểm. B1 trực tiếp cá độ 42 trận với tổng số tiền 102.645.000 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 15.000.000 đồng. Tài khoản này C1 hưởng lợi 7.050.000 đồng; Đến ngày 24/11/2022 tài khoản KJ772001 bị khóa nên K được cấp tài khoản mới tên Nohoa779, mật khẩu Abcd1234. Tài khoản này K giao cho Trần Công H1 và Phạm Quốc V1, sinh năm 1996, trú tại: A phường C, quận H, Hải Phòng. Tài khoản này hiện bị khóa nên không trích xuất được dữ liệu. Tuy nhiên kiểm tra điện thoại của Trần Công H1 xác định ngày 24/11/2022, H1 nhắn tin qua ứng dụng Zalo với Nguyễn Duy K, trực tiếp cá độ trận bóng giữa Bỉ và Canada với số tiền 6.000.000 đồng, kết quả hòa; Ngoài ra khoảng tháng 11/2022, Đỗ Duy C1 và Nguyễn Duy K nhờ Nguyễn Hữu T lấy hộ trang bóng để cá độ bóng đá. T giới thiệu Hoàng Đức T4 (chưa xác minh được nhân thân, lai lịch) cho K và C1 đồng thời T lấy trang bóng KQ300404000, mật khẩu là Mmmm2222 của T4 và thỏa thuận với giá đô 50.000 đồng/điểm. T trực tiếp cá độ 11 trận sử dụng số tiền 34.235.000 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 9.450.000 đồng.
Kết luận giám định số 353/KLGĐ ngày 30/5/2023 của Phòng C2 Công an thành phố H kết luận: Trong mẫu giám định ký hiệu A1 của Nguyễn Duy K tìm thấy 3345 danh bạ, 37 ghi chú, 34 lịch sử Web, 2486 cuộc gọi, 111 tin nhắn tức thì, 04 cuộc hội thoại Instagram, 105 cuộc hội thoại Native Messages, 93 tin nhắn Recents, 02 cuộc hội thoại Viber, 200 cuộc hội thoại Zalo, 2541 tin nhắn Zalo (thời gian từ 22/7/2022 đến ngày 22/11/2022), 65 hình ảnh chụp các cuộc hội thoại Telegram, 363 hình ảnh được lưu trong máy. Trong mẫu giám định ký hiệu A2 của Nguyễn Hữu T tìm thấy 1668 danh bạ, 35 ghi chú, 66 lịch sử Web, 441 cuộc gọi, 97 tin nhắn tức thì, 401 cuộc hội thoại Native Messages, 107, 6355 tin nhắn Zalo được lưu trong máy. Trong mẫu giám định ký hiệu A3 của Nguyễn Ngọc Đ tìm thấy 878 danh bạ, 11 ghi chú, 233 cuộc gọi, 139 tin nhắn tức thì, 6 cuộc hội thoại Instagram, 11 cuộc hội thoại Native Messages, 14 tin nhắn Recents, 200 cuộc hội thoại Zalo, 5648 tin nhắn Zalo, 50 hình ảnh, 29 lịch sử Web được lưu trong máy. Trong mẫu giám định ký hiệu A4 của Nguyễn Đức B1 tìm thấy 1632 danh bạ, 8 ghi chú, 287 cuộc gọi, 46 tin nhắn tức thì, 04 cuộc hội thoại Native Messages, 02 tin nhắn Recents, 2124 tin nhắn zalo được lưu trong máy. Trong mẫu giám định ký hiệu A5 của Hoàng Gia B tìm thấy 955 danh bạ, 11 ghi chú, 617 lịch sử Web, 279 cuộc gọi, 33 tin nhắn tức thì, 04 cuộc hội thoại line, 47 cuộc hội thoại Native Messages, 87 tin nhắn Recents, 16 cuộc hội thoại Zalo được lưu trong máy. Trong mẫu giám định ký hiệu A6 của Trần Công H1 tìm thấy 1794 danh bạ, 6 ghi chú, 145 lịch sử Web, 3039 cuộc gọi, 109 tin nhắn tức thì, 20 cuộc hội thoại Native Messages, 33 tin nhắn Recents, 232 cuộc hội thoại zalo được lưu trong máy.
Về vật chứng: Chuyển 01 điện thoại Iphone 12 Promax của Nguyễn Duy K, 01 điện thoại Iphone 13 Promax của Hoàng Gia B, 01 điện thoại 12 Iphone Promax của Nguyễn Ngọc Đ, 01 điện thoại Iphone 11 Promax của Nguyễn Đức B1, 01 điện thoại Iphone 12 Promax của Nguyễn Hữu T, 01 điện thoại Iphone XS max của Trần Công H1 đến Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.
Bản Cáo trạng số 246/CT-VKS-P2 ngày 06 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Duy K phạm các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, quy định tại các điểm c khoản 2 Điều 322 và điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố Đỗ Duy C1, Nguyễn Đức B1, Nguyễn Ngọc Đ, Hoàng Gia B, Nguyễn Hữu T, Hoàng Thị T1 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; truy tố Trần Công H1 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”. Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Hoàng Thị T1, Hoàng Gia B, Trần Công H1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 322; điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 04 (B2) năm tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/12/2022.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 04/12/2022 đến ngày 13/12/2022. Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo cho đến khi đi thi hành án.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị T1 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo cho đến khi đi thi hành án.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Gia B 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2022 đến ngày 19/10/2023. Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo cho đến khi đi thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Công H1 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 04/12/2022 đến ngày 13/12/2022. Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo cho đến khi đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức B1, Đỗ Duy C1, Nguyễn Ngọc Đ; quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Đức B1, Đỗ Duy C1, Nguyễn Ngọc Đ, Hoàng Thị T1, Nguyễn Hữu T, Hoàng Gia B và Trần Công H1 đều có đơn kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 02/7/2024, bị cáo Nguyễn Đức B1; ngày 05/12/2024, bị cáo Đỗ Duy C1 và ngày 22/11/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc Đ rút đơn kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Nguyễn Đức B1, Đỗ Duy C1 và Nguyễn Ngọc Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các bị cáo Nguyễn Duy K, Hoàng Thị T1, Nguyễn Hữu T, Hoàng Gia B giữ nguyên kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Trần Công H1 rút kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, vai trò, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của các bị cáo, kết luận: bị cáo Nguyễn Duy K bị xử phạt về các tội: “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Hoàng Thị T1, Nguyễn Hữu T, Hoàng Gia B bị xử phạt về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Trần Công H1 bị xử phạt về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo Trần Công H1 tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm; các bị cáo K, T1, T, B được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới theo Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cụ thể: Giảm cho Nguyễn Duy K từ 02 năm đến 03 năm tù tội: “Tổ chức đánh bạc” và từ 01 năm đến 02 năm tội: “Đánh bạc”; Đối với các bị cáo Hoàng Thị T1, Nguyễn Hữu T, Hoàng Gia B đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong thời hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Các bị cáo có mặt đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thống nhất với kết luận của cấp sơ thẩm như sau:
. Khoảng tháng 5/2022, bị cáo Nguyễn Duy K đã mua lại tài khoản đại lý cá cược bóng đá của đối tượng tên H2, với giá đô là 6000 đồng/điểm và 20.000 đồng/điểm (01 đô = 01 điểm), trả tiền hoa hồng “com” (01 com = 0,25 đô), hạn mức 40.000 điểm tương ứng với số tiền tối đa 800.000.000 đồng để chia thành các tài khoản cá độ nhỏ, nâng giá điểm theo thỏa thuận và giao lại cho những người chơi để thực hiện hành vi cá độ bóng đá trên mạng internet. Nguyễn Duy K trực tiếp giao cho 03 người chơi là Nguyễn Ngọc Đ, Mai Hồng N, Hoàng Thị T1 để Đ, N và T1 cá độ 331 trận, tương ứng với số tiền 583.249.500 đồng. K hưởng lợi 29.425.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy K đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, với tình tiết định khung: “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
. Bị cáo Nguyễn Duy K đã giao cho Nguyễn Ngọc Đ tài khoản KJ772001009 với hạn mức 1500 điểm. Tài khoản này K mua của H2 với giá 6.000 đồng/điểm và bán lại cho Đ với giá 8.000 đồng/điểm. Đ trực tiếp cá độ 08 trận với tổng số tiền 47.680.000 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 30.880.000 đồng. Tài khoản này K nâng giá lên cao hơn 2.000 đồng/điểm tương ứng với số tiền đánh bạc là 7.720.000 đồng được xác định là tiền đánh bạc trực tiếp giữa K và Đ. Tài khoản KJ77200100K, Nguyễn Duy K giao cho Hoàng Thị T1. T1 trực tiếp cá độ 112 trận với tổng số tiền 145.485.000 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 7.350.000 đồng. Tài khoản KJ77200100D, Nguyễn Duy K giao cho đối tượng tên Mai Hồng N và cho Hoàng Gia B chung chi với tỷ lệ 1000 đồng/điểm. N trực tiếp cá độ 211 trận với tổng số tiền 390.084.500 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 5.880.000 đồng. Tài khoản KJ77200100A, Đỗ Duy C1 nhờ Nguyễn Duy K cắt trang để C1 giao cho Nguyễn Đức B1. B1 trực tiếp cá độ 42 trận với tổng số tiền 102.645.000 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 15.000.000 đồng. Số tiền thắng thua B1 sẽ thanh toán với C1. Bị cáo Nguyễn Hữu T đã lấy tài khoản cá độ bóng đá của Hoàng Hữu T5 để trực tiếp cá độ 11 trận sử dụng số tiền 34.235.000 đồng, trong đó có 01 trận sử dụng số tiền 9.450.000 đồng. Ngày 24/11/2022, Trần Công H1 nhắn tin qua ứng dụng Zalo với Nguyễn Duy K, trực tiếp cá độ trận bóng đá giữa Bỉ và Canada với số tiền 6.000.000 đồng, kết quả hòa. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Duy K, Hoàng Thị T1, Hoàng Gia B, Nguyễn Hữu T đã phạm tội “Đánh bạc”, với tình tiết định khung hình phạt: “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Công H1 đã phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt các bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự như đã nhận định trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của các bị cáo:
. Bị cáo Trần Công H1 rút kháng cáo, xét việc rút kháng cáo phù hợp quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm và bản án sơ thẩm có hiệu lực đối với bị cáo Trần Công H1.
. Trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá bị cáo Nguyễn Duy K độc lập hành vi Tổ chức đánh bạc, ngoài ra K thực hiện hành vi đánh bạc với Nguyễn Ngọc Đ, cho Hoàng Gia B chung chi 1.000 đồng/điểm, giao tài khoản cá độ bóng đá cho Hoàng Thị T1 để T1 trực tiếp cá độ, giao tài khoản cá độ bóng đá cho Đỗ Duy C1 để C1 đánh bạc với Nguyễn Đức B1, đánh bạc cùng với Trần Công H1, nên K đồng phạm với Đ, B, T1, C1 và H1. Đối với Đ, B, T1, C1 và H1 đồng phạm với K và độc lập với nhau; số tiền dùng vào việc đánh bạc thì Đ số tiền 30.880.000 đồng, C1 và B1 đánh bạc với nhau với số tiền 15.000.000 đồng, T sử dụng số tiền 9.450.000 đồng, T1 sử dụng số tiền 7.350.000 đồng, H1 sử dụng số tiền 6.000.000 đồng, B sử dụng số tiền 5.880.000 đồng. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá vai trò, số tiền, số lần đánh bạc, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và xử phạt mức hình phạt là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã áp dụng, các bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể: Đối với bị cáo Nguyễn Duy K khi vụ án được phát hiện, K khai ra hành vi của B, Đ, T1, C1, N và đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án, con nhỏ, bố mẹ già yếu và hiện lao động chính, gia đình hoàn cảnh khó khăn, nhân thân tốt nên cần áp dụng điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K. Đối với bị cáo Hoàng Thị T1 ngày 14/5/2024 sinh con thứ ba tên con là Hoàng A2 (theo Giấy khai sinh do UBND phường Đ cấp), bị cáo T1 là phụ nữ hiện phải nuôi ba con nhỏ, điều kiện hoàn cảnh khó khăn, nhân thân tốt, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T1. Đối với các bị cáo Hoàng Gia B, Nguyễn Hữu T đều là lao động chính, hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già yếu, con nhỏ, ăn năn hối cải... cần tiếp tục áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo B, T. Do các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho K, T, T1, B thể hiện sự nhân đạo, nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
. Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Xét thấy, các căn cứ và lập luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp và được chấp nhận.
. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, các bị cáo K, B, T1, T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo H1 tự nguyện rút kháng cáo tại phiên tòa nên không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 348 (đối với bị cáo Trần Công H1), Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm với kháng cáo của bị cáo Trần Công H1.
Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng có hiệu lực đối với bị cáo Trần Công H1.
2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Hữu T, Hoàng Thị T1, Hoàng Gia B.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 04/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, cụ thể như sau:
2.1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 322; điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55; Điều 58; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội: “Tổ chức đánh bạc” và 03 (Ba) năm tù, về tội: “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Duy K phải chấp hành hình phạt chung là 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/12/2022.
2.2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 03 (Ba) năm tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 04/12/2022 đến ngày 13/12/2022.
2.3. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T1 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2.4. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Gia B 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2022 đến ngày 19/10/2023.
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Hữu T, Hoàng Thị T1, Hoàng Gia B, Trần Công H1 không phải nộp án phí phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND thành phố Hải Phòng (06 bản); - Công an Tp Hải Phòng; - Trại tạm giam – CA TP Hải Phòng; - Cục THADS thành phố Hải Phòng; - Các bị cáo (Theo địa chỉ, qua trại); - Lưu HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đặng Đình Lực |