vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H P Hwing.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H P Hwing được ly hôn với anh Y L Kbuôr. Về con chung: Giao con chung là cháu Y P Hwing – sinh ngày 21/8/2013 cho chị H P Hwing trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H P Hwing kiện ly hôn với anh Y L Kbuôr"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H P Hwing.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-8-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Lý

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Xuân Mai; 2. Ông Phạm Văn Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Thư – Kiểm sát viên

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2025/TLST – HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/8/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị H P Hwing, sinh năm 1997. (Có mặt)

Địa chỉ: Số 32, đường số 3, buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Hiện nay là: Số nhà 32, đường số 3, buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Y L Kbuôr, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Hiện nay là: Buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/3/2025, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị H P Hwing trình bày:

Chị H P Hwing và anh Y L Kbuôr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2015 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan niệm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Từ tháng 02/2025 cho đến nay anh Y L về nhà mẹ đẻ ở nên chị H P và anh Y L không còn chung sống với nhau nữa. Nay chị H P nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục, chị H P yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị H P và anh Y L có 01 con chung là cháu Y P Hwing – sinh ngày 21/8/2013, con đang ở với chị H P. Chị có nguyện vọng nuôi con, không yêu cầu anh Y L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Y L Kbuôr nhưng anh Y L vắng mặt trong các buổi làm việc nên Tòa án không thể lấy lời khai của anh Y L và không tiến hành hòa giải được.

Theo nội dung cung cấp thông tin của Hội liên hiệp phụ nữ xã Ea Tul xác định: Trong quá trình chung sống tại địa phương, giữa chị H P Hwing và anh Y L Kbuôr có xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai bên không trình báo ban tự quản buôn, cũng không nhờ Hội phụ nữ can thiệp về việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Đối với Thẩm phán về cơ bản đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70; Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, 53; 54; 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H P Hwing, bà H P Hwing được ly hôn với ông Y L Kbuôr. Về con chung: Giao con chung là cháu Y P Hwing – sinh ngày 21/8/2013 cho bà H P Hwing trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H P Hwing không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với bị đơn có nơi cư trú tại buôn Tơng Liă, xã Ea Tar, huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk, nay là buôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H P Hwing và anh Y L Kbuôr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2015 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk theo quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, do quan điểm sống bất đồng nên chị H P và anh Y L xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được, từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay chị H P và anh Y L không còn chung sống với nhau. Trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án đã triệu tập anh Y L Kbuôr nhiều lần để tiến hành hòa giải nhưng anh Y L vẫn cố tình vắng mặt, cho thấy anh Y L không có thiện chí hòa giải và giải quyết mâu thuẫn với chị H P. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị H P và anh Y L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phươk là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H P Hwing và anh Y L Kbuôr có 01 con chung là cháu Y P Hwing – sinh ngày 21/8/2013 hiện đang ở với chị H P. Chị H P có nguyện vọng nuôi con, cháu Y P cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị H P, giao con cho chị H P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H P Hwing không yêu cầu anh Y L Kbuôr cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị H P Hwing phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 đồng. Anh Y L Kbuôr không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H P Hwing.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H P Hwing được ly hôn với anh Y L Kbuôr.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Y P Hwing – sinh ngày 21/8/2013 cho chị H P Hwing trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Chị H P Hwing không yêu cầu anh Y L Kbuôr cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị H P Hwing phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004753 ngày 25/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưM’gar, tỉnh ĐắkLắk.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ