- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị: Bùi Thị X; bị đơn: Anh Bùi văn S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị X.
- Căn cứ chính? Luật Hôn và nhân gia đình; luật Tố tụng; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HNGĐ - ST Ngày 29 tháng 7 năm 2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Quang Dự
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Trung Tính và Ông: Quách Ngọc Ánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 18/2025/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 19/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18/6/2025; giữa:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị X, sinh ngày 01/4/1987; Có mặt
Nơi cư trú: Xóm Tr, xã Mường Đ, tỉnh Phú Thọ
- Bị đơn: Anh Bùi Văn S, sinh ngày 27/12/1986; Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm Tr, xã Mường Đ, tỉnh Phú Thọ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/02/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị X trình bày và yêu cầu như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Bùi Văn S tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/11/2010 tại UBND xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (cũ), vợ chồng chung sống đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn, do anh S đi làm ăn xa có quan hệ với người phụ nữ khác nên không còn quan tâm đến vợ, con ở nhà dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Bùi Văn S.
- Về con chung: Có 03 con chung Bùi Thị Trà M, sinh ngày 10/7/2011; Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 01/02/2014 và Bùi Như Q, sinh ngày 01/02/2021, sau khi ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi con, chưa yêu cầu anh Bùi Văn S cấp dưỡng nuôi.
- Tài sản chung chưa yêu cầu Tòa án giải quyết; Công nợ chung: Không có
* Đối với anh Bùi Văn S:
- Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh Bùi Văn S hợp lệ, nhưng anh không có ý kiến gì về việc chị Bùi Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh; ý kiến về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; ý kiến về tài sản chung, công nợ chung.
Tại phiên tòa chị Bùi Thị X giữ nguyên các yêu cầu, không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.
Anh Bùi Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 vắng mặt không có lý do, anh không có ý kiến yêu cầu gì thêm khác.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã đảm bảo được thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71; đối với bị đơn không tuân theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/216 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị X. Xử cho chị Bùi Thị X được ly hôn anh Bùi Văn S; Về con chung: Có 03 con chung Bùi Thị Trà M, sinh ngày 10/7/2011; Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 01/02/2014 (có nhược điểm về tâm thần không trình bày được tự khai) và Bùi Như Q, sinh ngày 01/02/2021, ý kiến của cháu Bùi Thị Trà M, nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sinh sống cùng chị X, xét thấy ý kiến của các bên là có căn cứ đề nghị HĐXX chấp nhận ý kiến của chị X cùng các con của chị, giao 03 con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác; Về tài sản chung chưa yêu cầu giải quyết; Công nợ chung: Không có nên không đề cập; Về án phí chị Bùi Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ áp dụng luật Tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, bị đơn là anh Bùi Văn S hiện đang cư trú tại xã Mường Đ, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 13, tỉnh Phú Thọ, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn, anh Bùi Văn S đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 vắng mặt không có lý do. HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ áp dụng luật nội dung: Quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn hợp pháp, nên áp dụng Luật Hôn và nhân gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.
Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
+ Đối với yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị X: Sau kết hôn năm 2010 vợ chồng anh chị, chung sống đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn, do anh S đi làm ăn xa có quan hệ với người phụ nữ khác, nên không còn quan tâm đến vợ và con, ở nhà dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, chị X thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Bùi Văn S.
+ Đối với anh Bùi Văn S: Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh Bùi Văn S hợp lệ, nhưng anh không có ý kiến gì về việc chị Bùi Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh; ý kiến về người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn; ý kiến về tài sản chung, công nợ chung. Kết quả xác minh tại nơi cư trú, vợ chồng anh, chị mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì đoàn thể nơi cư trú không biết, do anh chị không đề nghị đoàn thể hòa giải, xác minh người thân mẹ anh S nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị X và anh S là do chị X ghen tuông nghĩ chồng quay lại với vợ cũ.
Tại phiên Tòa chị Bùi Thị X vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn anh Bùi Văn S do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, không thể khắc phục, mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được. Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị X là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của chị X, xử cho chị Bùi Thị X được ly hôn anh Bùi Văn S, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Anh chị có 03 con chung Bùi Thị Trà M, sinh ngày 10/7/2011; Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 01/02/2014 và Bùi Như Q, sinh ngày 01/02/2021, chị X yêu cầu sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi 03 con chưa yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, ý kiến của cháu Bùi Thị Trà M, nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sinh sống cùng chị X. Đối với cháu Bùi Thị Khánh L do cháu có nhược điểm về tâm thần nên không trình bày được tự khai, không ghi nhận được ý kiến của cháu.
HĐXX xét thấy ý kiến và yêu cầu của các bên là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị X, giao 03 con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các bên có yêu cầu mới, theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung chưa yêu cầu giải quyết; Công nợ chung: Không có nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Bùi Thị X phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/216 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị X.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị X được ly hôn anh Bùi Văn S.
2. Về con chung: Xác nhận có 03 con chung, giao 03 Bùi Thị Trà M, sinh ngày 10/7/2011; Bùi Thị Khánh L, sinh ngày 01/02/2014 và Bùi Như Q, sinh ngày 01/02/2021 cho chị Bùi Thị X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi 03 con đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác, chị X chưa yêu cầu anh Bùi Văn S cấp dưỡng nuôi con; anh S có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.
3. Tài sản chung: Chưa yêu cầu giải quyết; Công nợ chung: Không có
4. Án phí: Chị Bùi Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0003361 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Phú Thọ).
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND Khu vực 13 - Phú Thọ; - Phòng THADS Khu vực 13 - Phú Thọ; - UBND xã Mường Động; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Quang Dự |