vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Bùi Thị Yến N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Yến N được ly hôn với anh Lê Hoàng P. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và Giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 06 tháng 6 năm 2023 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Bùi Thị Yến N.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06-02-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu

2. Ông Hồ Phi Công

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 586/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Yến N, sinh năm: 1997

Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng P, sinh năm: 1998

Địa chỉ: Tổ B, ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị Yến N trình bày: Chị và anh Lê Hoàng P tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2023 tại Ủy ban nhân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Trước đó cả hai chưa ai có vợ có chồng.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc và thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến vợ chồng ngày càng xảy ra cãi vã, đã rất nhiều lần hai vợ chồng đã ngồi lại để tìm cách giải quyết nhưng không thành dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không tôn trọng nhau, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 12 năm 2023 đến nay, từ đó cuộc sống ai người đó lo, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng P.

Về con chung: Chị Bùi Thị Yến N và anh Lê Hoàng P có 01 con chung tên Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày: 11/12/2023. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi con chung là cháu Lê Ngọc Như Ý và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Yến N trình bày không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị Bùi Thị Yến N trình bày không có nợ chung.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Hoàng P được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng anh Lê Hoàng P vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án không thu thập được ý kiến của anh Lê Hoàng P đối với yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Yến N.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho cho chị Bùi Thị Yến N được ly hôn với anh Lê Hoàng P.

Về con chung: Chị Bùi Thị Yến N và anh Lê Hoàng P có 01 con chung tên Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày: 11/12/2023. Chị N yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy, hiện cháu Ý còn nhỏ rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lê Ngọc Như Ý cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Yến N trình bày không yêu cầu giải quyết; Về nợ chung chị Bùi Thị Yến N trình bày không có, anh Lê Hoàng P không có lời khai về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Chị Bùi Thị Yến N khởi kiện anh Lê Hoàng P về việc Ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung. Do đó, quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Lê Hoàng P có nơi cư trú tại tổ B, ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Bùi Thị Yến N khởi kiện anh Lê Hoàng P, nên xác định chị N là nguyên đơn, anh P là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị Yến N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; anh Lê Hoàng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Bùi Thị Yến N theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt anh Lê Hoàng P theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Yến N và anh Lê Hoàng P tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu của nguyên đơn, nhận thấy: Chị Bùi Thị Yến N trình bày quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc và thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến vợ chồng ngày càng xảy ra cãi vã, đã rất nhiều lần hai vợ chồng đã ngồi lại để tìm cách giải quyết nhưng không thành dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không tôn trọng nhau, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 12 năm 2023 đến nay, từ đó cuộc sống ai người đó lo, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng P.

Tại Biên bản xác minh ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại ấp F, xã X (bút lục số 42) thể hiện anh P hiện nay đang cư trú và sinh sống tại địa phương; về quan hệ hôn nhân hiện nay chị Bùi Thị Yến N và anh Lê Hoàng P không còn chung sống với nhau. Trong quá trình làm việc, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Hoàng P đến tham gia các buổi làm việc, xét xử nhưng anh P vắng mặt không có lý do chính đáng. Thấy rằng, chị N cương quyết xin ly hôn nhưng anh P không có nỗ lực thật sự để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng mặc dù Tòa án đã cho thời gian để anh P và chị N đoàn tụ vợ chồng nhưng anh P không đến Tòa án để làm việc và anh P cũng thờ ơ về việc chị N xin ly hôn với anh nên không có kết quả. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị N và anh P mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày: 11/12/2023. Chị N yêu cầu được nuôi con chung là cháu Ý. Xét thấy, cháu Ý còn nhỏ rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ để cháu phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần nên tiếp tục giao cháu Lê Ngọc Như Ý cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N tạm thời không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con để nuôi cháu Ý. Anh P không có lời khai về con chung và về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Lê Hoàng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về nợ chung: Chị Bùi Thị Yến N trình bày không có. Anh Lê Hoàng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về án phí: Chị Bùi Thị Yến N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Bùi Thị Yến N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Yến N được ly hôn với anh Lê Hoàng P.

Quan hệ hôn nhân chấm dứt và Giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 06 tháng 6 năm 2023 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Chị Bùi Thị Yến N và anh Lê Hoàng P có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày: 11/12/2023.

Giao con chung là cháu Lê Ngọc Như Ý cho mẹ là chị Bùi Thị Yến N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: tạm thời chị Bùi Thị Yến N không yêu cầu anh Lê Hoàng P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Anh Lê Hoàng P được quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung: Không giải quyết

4. Về nợ chung: Không giải quyết.

5. Về án phí: Chị Bùi Thị Yến N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Bùi Thị Yến N đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005291 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Chị Bùi Thị Yến N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Yến N, anh Lê Hoàng P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ