vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Văn P.

Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con là Bùi Quang V, sinh ngày 24/9/2015 cho đến khi trưởng thành. Anh Bùi Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ chị Bùi Thị D khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Văn P, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15 - 5 - 2025
(V/v tranh chấp ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thiết.

2. Bà Đinh Thị Phong.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhạn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Lạc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn P, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/3/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị D với anh Bùi Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình ngày 23/6/2015. Sau khi kết hôn, chị D và anh P chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ chị D ở xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng bình thường. Trong quá trình chung sống anh P không tu chí làm ăn, hay rượu chè bê tha bỏ mặc vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Năm 2016 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không có tiếng nói chung, chị D và anh P đều đi làm ăn xa nhà nhưng chỉ có chị D chăm lo cuộc sống của con. Cả hai đã sống ly thân nhiều năm, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, nên chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.

Về con chung: Chị D và anh P có với nhau một con chung tên là Bùi Quang V, sinh ngày 24/9/2015. Hiện nay con đang ở với chị D. Khi ly hôn chị D đề nghị được tiếp tục nuôi con cho đến khi trưởng thành và chưa yêu cầu anh P cấp dưõng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có

Tại phiên toà hôm nay, chị Bùi Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

Về phía bị đơn: Anh Bùi Văn P vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án, anh P không đến làm việc nên không có lời khai về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án: Đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên đối với bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập nhiều lần để làm việc nhưng Bị đơn không chấp hành triệu tập của Tòa án, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Văn P; Về con chung: Chị D và anh P có 01 con chung, từ nhỏ con sinh sống cùng mẹ, đề nghị giao con chung cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Quang V cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, chị D chưa yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xét đến. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là chị Bùi Thị D với bị đơn là anh Bùi Văn P, anh Phặng cư trú tại xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho các đương sự về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Nhưng tại phiên họp tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn anh Bùi Văn P vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được, chị D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần anh P đã nhận văn bản nhưng không đến làm việc. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự. Nhưng tại phiên tòa lần thứ nhất, do bị đơn vắng mặt, nên Tòa án đã phải hoãn phiên tòa. Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự đến phiên tòa lần thứ hai. Nhưng tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị D với anh Bùi Văn P là hợp pháp, được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình ngày 23/6/2015.

Nguyên nhân ly hôn, theo chị D trình bày do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị D và anh P đã sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân cả hai vợ chồng đều không quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Tòa án đã tiến hành xác minh thực trạng hôn nhân giữa chị D và anh P tại chính quyền địa phương cho thấy: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh P và chị D chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ chị D, cuộc sống bình thường. Nhưng đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do anh P thiếu sự quan tâm, xây dựng gia đình, đi làm xa nhà nhưng không vun đắp cho gia đình, từ đó cả hai sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, không còn có sự quan tâm, chăm sóc đối với nhau dẫn đến hôn nhân ngày càng trầm trọng.

Xét thấy, vợ chồng chị D anh P không còn có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị D khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị D và anh P có một con chung tên là Bùi Quang V, sinh năm 2015, con có nguyện vọng được ở với mẹ, xét hoàn cảnh thực tế anh P không quan tâm, chăm lo gì cho con chung nên việc giao cháu V cho chị D trực tiếp chăm sóc, giáo dục nuôi con đến khi trưởng thành là hoàn toàn phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị D chưa yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị D khai không có tài sản chung nên không xem xét

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu án phí dân sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Bùi Văn P.

2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con là Bùi Quang V, sinh ngày 24/9/2015 cho đến khi trưởng thành.

Anh Bùi Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị D chưa yêu cầu anh Bùi Văn P cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sơ thẩm về việc ly hôn. Được trừ vào số tiền chị Bùi Thị D đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại biên lai thu tiền số 0000761 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc; chị D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Bùi Thị D có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình để xin xét xử phúc thẩm. Anh Bùi Văn P vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo cùng thời hạn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ