vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Diễm A.

Bà Lê Thị Diễm A và ông Nguyễn Hoàng B được ly hôn. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Lê Ngọc C, sinh ngày 12/01/2019, cho bà Lê Thị Diễm A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Diễm A và ông Nguyễn Hoàng B ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Diễm A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày 24-3-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hòa.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Trang;

2. Ông Nguyễn Duy Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Thuý Vân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Phan Thanh Nhã, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 423/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Lê Thị Diễm A, sinh năm 1996; địa chỉ: số A1, hẻm A2, đường A3, ấp A4, xã Trường Tây, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: ông Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1995; địa chỉ: số B1, hẻm B2, đường B3, ấp B4, xã Trường Tây, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 10 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Lê Thị Diễm A trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hoàng B kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trường Tây, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh ngày 18/01/2018. sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại ấp Trường Lộc, xã Trường Tây, thị xã Hoà Thành, quá trình chung sống đến đầu năm 2020 phát sinh mẫu thuẫn do ông B do bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường hay cãi nhau vào cuối năm 2021 bà có nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông B tại Toà án nhân dân thị xã Hoà Thành, nhưng sau đó bà rút đơn lại để vợ chồng có cơ hội thay đổi sửa chữa, ông B hứa hẹn sẽ thay đổi tính tình nhưng sau đó ông B không thay đổi và có đánh đập bà nhiều lần. Ông B thường xuyên nhắn tin hâm doạ bà và gia đình bà dẫn đến cuộc sống vợ chồng không thể nào tiếp tục được nữa. Hiện tại vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2024 cho đến nay, bà đưa con về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Do đó, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà kiên quyết được ly hôn với ông B.

Về con chung: bà và ông B có 01 con chung tên Nguyễn Lê Ngọc C, sinh ngày 12/01/2019, hiện đang sống cùng với bà, bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án – bị đơn ông Nguyễn Hoàng B đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập nhiều lần theo quy định nhưng ông B không cung cấp Văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để làm việc.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Diễm A đối với ông Nguyễn Hoàng B; về con chung: giao con chung tên Nguyễn Lê Ngọc C cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí tính theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

. Về Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ tranh chấp: nguyên đơn – bà Lê Thị Diễm A khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn – ông Nguyễn Hoàng B, do bị đơn cư trú tại xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh do đó căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” nên Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý và giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Về tố tung: bị đơn – ông Nguyễn Hoàng B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần tham gia phiên tòa nhưng ông B vắng mặt không lý do, nguyên đơn – bà Lê Thị Diễm A có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị Diễm A và ông Nguyễn Hoàng B chung sống và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trường Tây ngày 18/01/2018, nên hôn nhân giữa bà A và ông B là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn - bà A trình bày, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn thường hay cãi nhau lý do mâu thuẫn về tính tình bất đồng quan điểm, vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2024 đến nay, trước đây bà A cũng đã từng khởi kiện ly hôn với ông B vào năm 2021 nhưng sau đó bà A tự nguyện rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tuy nhiên nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên bà A khởi kiện ly hôn với ông B. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông B đến Tòa án nhưng ông B không đến Toà án, không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cũng như không có văn bản trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của bà A, cho thấy ông B không có thiện chí được đoàn tụ.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lê Thị Diễm A đối với ông Nguyễn Hoàng B theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: bà A và ông B có 01 con chung tên Nguyễn Lê Ngọc C, sinh ngày 12/01/2019, hiện đang sống cùng với bà A, bà A yêu cầu được nuôi con, do đó cần giao cháu Nguyễn Lê Ngọc C cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Lê Thị Diễm A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Diễm A.

Bà Lê Thị Diễm A và ông Nguyễn Hoàng B được ly hôn.

2. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Lê Ngọc C, sinh ngày 12/01/2019, cho bà Lê Thị Diễm A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận bà A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Lê Thị Diễm A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí khởi kiện đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0011686 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; ghi nhận bà A đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ