- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Văn V yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Đăng Ph"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn V đối với bà Võ Thị Đăng Ph.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BT Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06-01-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL, TỈNH BT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim H.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tất L.
Bà Bùi Thị Tuyết Th.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh BT tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Th1 - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 371/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn Ông Nguyễn Văn V - Sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp MP, xã TM, huyện CT, tỉnh ST. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Bà Võ Thị Đăng Ph - Sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp LH, xã LT, huyện CL, tỉnh BT. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến, nguyên đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:
Ông Nguyễn Văn V và bà Võ Thị Đăng Ph qua tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã LT ngày 30/7/2018. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân vợ chồng không có tiếng nói chung và vợ chồng đã sống ly thân nay đã 3 năm mà không thể hàn gắn được.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc với nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông V cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Võ Thị Đăng Ph và không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: gồm có 01 người con chung tên Nguyễn Dương Bảo Anh, sinh ngày 12/11/2018, hiện đang sống chung với ông V. Khi ly hôn, ông V yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con và không yêu cầu bà Ph cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Do công việc đi làm ăn xa, đi lại khó khăn, ông V đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vắng mặt ông cho đến khi kết thúc vụ kiện.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn không tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân gia đình.
Về hôn nhân: ông Nguyễn Văn V được ly hôn với bà Võ Thị Đăng Ph.
Về con chung: Giao cho cháu Nguyễn Dương Bảo Anh, sinh ngày 12/11/2018 cho ông V được trực tiếp nuôi dưỡng, bà Ph không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: ông Nguyễn Văn V yêu cầu được ly hôn với bà Võ Thị Đăng Ph, có địa chỉ tại ấp LH, xã LT, huyện CL, tỉnh BT. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được Tòa án xem xét giải quyết và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện CL theo quy định tại Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn V có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa, còn bị đơn bà Võ Thị Đăng Ph mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông V, bà Ph là phù hợp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Văn V và bà Võ Thị Đăng Ph tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LT, huyện CL, tỉnh BT vào ngày 30/7/2018 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Ông V cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa ông và bà Ph hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng lối sống, không có tiếng nói chung và vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay mà không thể hàn gắn, cuộc sống mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên ông V yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Ph.
Còn bà Ph mặc dù đã được Tòa án mời đến Tòa tham dự phiên hòa giải để tạo điều kiện động viên hàn gắn gia đình cho ông V và bà Ph nhưng bà Ph vẫn cố tình vắng mặt suốt trong quá trình hòa giải cho đến khi xét xử vụ án và không có ý kiến gì. Điều đó chứng tỏ, bản thân bà Ph không muốn hàn gắn gia đình. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân giữa ông V và bà Ph đã mâu thuẩn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và ly hôn là cách để giải thoát cho cả hai. Do đó, HĐXX nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông V với bà Ph là phù hợp theo quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Ghi nhận ông V không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông V và bà Ph có tạo ra 01 người con chung tên Nguyễn Dương Bảo Anh - sinh ngày 12/11/2018. Từ nhỏ cháu Bảo Anh được gia đình bà Ph nuôi dưỡng, chăm sóc, đến đầu năm 2024 ông V đã nhận nuôi cháu Anh và chăm sóc cho cháu được chu đáo, không ai phản đối gì. Bản thân bà Ph cũng không có ý kiến hay phản đối gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, cần giao cháu Nguyễn Dương Bảo Anh cho ông Nguyễn Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nhằm đảm bảo cuộc sống sinh hoạt, cũng như không làm xáo trộn điều kiện học hành của cháu. Ghi nhận ông V không yêu cầu bà Ph cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: ông V khai không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa giải quyết và cũng không ai có ý kiến yêu cầu gì nên không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 265, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn V đối với bà Võ Thị Đăng Ph. Cụ thể tuyên:
Ông Nguyễn Văn V được ly hôn với bà Võ Thị Đăng Ph.
Ông Nguyễn Văn V không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
2. Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Văn V được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 01 người con chung của ông và bà Võ Thị Đăng Ph tên Nguyễn Dương Bảo Anh - sinh ngày 12/11/2018, hiện cháu Anh đang sống chung với ông V.
Ghi nhận ông Nguyễn Văn V không yêu cầu bà Võ Thị Đăng Ph cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con chung, ông V và bà Ph có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và Ph thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản và nợ chung: ông V khai không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông V đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005736 ngày 07/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL, tỉnh BT, ông V đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Ông V, bà Ph vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện CL; - Chi cục T.H.A DS huyện CL; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu HSVA+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký tên và đóng dấu |