- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp HĐ vay tài sản giữa Nguyễn Thị Tuyết P - Phạm Anh T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14-ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/DSST Ngày: 22/8/2025 V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Kỳ Tùng và bà Phạm Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Khiêm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/QĐXXST- DS ngày 18/7/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-DS ngày 06/8/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết P, sinh năm 1968; Trú tại: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn C, xã T, tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Trần Thị Ý N– sinh năm 1995; Trú tại: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn C, xã T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt (có đơn xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Anh T, sinh năm 1975; Trú tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – chị Trần Thị Ý N trình bày:
Do có quan hệ quen biết nên vào ngày 28/12/2020, bà Nguyễn Thị Tuyết P có cho ông Phạm Anh T vay số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) theo lời ông T nói vay tiền cho mục đích cá nhân, thời hạn trả nợ hai bên thỏa thuận miệng là 06 tháng, việc vay mượn tiền có viết giấy mượn tiền, ông T ký tên. Tuy nhiên, quá thời hạn trả nợ nhưng ông T không chịu trả nợ theo thỏa thuận nên bà P có làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T phải trả số tiền 50.000.000đ. Quá trình giải quyết tại Tòa án ngày 16/7/2024 ông T có thỏa thuận mỗi tháng trả cho cho bà P 1.000.000đ vào ngày 16 hàng tháng cho đến khi trả đủ số tiền 50.000.000đ, ông T có viết giấy cam đoan trả nợ, bà P đã rút đơn khởi kiện để ông T có điều kiện trả nợ. Tuy nhiên, từ ngày 16/7/2024 đến nay ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Nên nay bà P khởi kiện yêu cầu ông T phải trả cho bà P số tiền đã vay là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); bà P không yêu cầu ông T phải trả lãi suất.
- TAND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay là TAND khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk) đã tiến hành triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Phạm Anh T nhưng ông T không đến Tòa, không thực hiện nghĩa vụ của đương sự nên không có lời trình bày và Tòa án không tiến hành hòa giải được.
- Tại đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Trần Thị Ý N giữ nguyên lời trình bày có tại hồ sơ vụ án, đề nghị ông Phạm Anh T phải trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết P số tiền đã vay là 50.000.000đ, không yêu cầu lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền đã mượn theo giấy mượn tiền và giấy cam đoan trả nợ. Đây là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS. Bị đơn thường trú tại khu phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay là TAND khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk) theo quy định tại Điều 35 BLTTDS. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 của BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung tranh chấp:
Đối với yêu cầu trả nợ gốc của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng:
Căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 28/12/2020 (Bút lục số 05) và giấy cam đoan trả nợ ngày 16/7/2024 (Bút lục số 06) do ông Phạm Anh T viết và ký tên cùng với lời trình bày của nguyên đơn được xem là chứng cứ của vụ án theo quy định tại Điều 93 BLTTDS, đủ cơ sở xác định: Ngày 28/12/2020, ông Phạm Anh T có vay của bà Nguyễn Thị Tuyết P số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Đến ngày 16/7/2024 ông Phạm Anh T viết giấy cam đoan trả nợ với nội dung có mượn của bà Nguyễn Thị Tuyết P số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), cam đoan mỗi tháng trả 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi hết nợ. Tuy nhiên, từ khi viết giấy cam đoan trả nợ đến nay ông T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Bà P đã nhiều lần yêu cầu ông T trả nợ nhưng ông T không trả nợ đúng cam kết là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà P, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà P là có căn cứ nên cần chấp nhận, buộc bị đơn ông Phạm Anh T phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết P số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Về yêu cầu tính lãi: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét.
Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 50.000.000đ x 5% = 2.500.000đ; Hoàn trả tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết P.
1. Buộc bị đơn ông Phạm Anh T phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết P số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí:
- Ông Phạm Anh T phải chịu 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết P số tiền 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai thu tiền số 0006761 ngày 13/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk)
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 14-Đắk Lắk (2); - Phòng THADS khu vực 14-Đắk Lắk; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Diễm Huyền |