vanban.org

Bản án 10/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Tuyên án 01/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lại Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lại Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy Heroine đã thu của Lại Văn Đ có trong bì thư số 191/GĐKTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/ HSST
Ngày 01 – 03– 2024

N H Â N D A N H

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Nguyễn Văn Chuyết

Ông Vũ Văn Phong

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xử số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Lại Văn Đ, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: Xóm 1, xã N1, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Lại Văn L, sinh năm 1953: Con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1954; Gia đình có 6 anh chị em, Đ là thứ 6; Vợ: Nguyễn Thị N2, sinh năm 1998 (đã ly hôn); con: có 01 con, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2023, bị tạm giam từ ngày 04/01/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Trực Ninh, đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Đ mang theo 200.000 đồng từ nhà đi bộ ra đường quốc lộ 490C bắt xe buýt đến khu vực gần cầu 3-2 ở thị trấn L1, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định rồi xuống xe mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Đ đi bộ lên cầu 3-2, thấy một người đàn ông không quen biết đứng một mình giữa cầu. Nghĩ người này có bán ma túy, Đ tiến lại gần hỏi: "Có hàng trắng không bán em hai trăm" ý hỏi mua 200.000 đồng ma tuý Heroin. Người này nhìn Đ nói: “Có tiền không, đưa đây". Đ lấy số tiền 200.000 đồng trong người đưa cho người đàn ông trên rồi nhận lại 01 gói giấy nhỏ màu trắng. Đ kiểm tra đúng loại ma tuý cần mua liền cất giấu trong túi quần đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Đ đi bộ trên trục đường 490C đến ngã ba T1 thuộc thôn N2, xã T2, huyện Trực Ninh thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong gói của Đ trên theo quy định pháp luật, kí hiệu là M.

+ 01 điện thoại di động trắng đen đã cũ nhãn hiệu Galaxy có sim số 0974429556

+ 01 căn cước công dân mang tên Lại Văn Đ.

Bản kết luận giám định số 191/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định xác định: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,198 gam.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư số 191/KL- KTHS ngày 02/01/2024 chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh chờ xử lý.

- Đối với 01 điện thoại di động trắng đen đã cũ nhãn hiệu Galaxy, vỏ màu trắng đen, số Imei: 356817075616208 có gắn 01 sim số 0974429556 và 01 căn cước công dân mang tên Lại Văn Đ là tài sản của Đ, Đ không sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi xác minh, Cơ quan điều tra trả lại cho bố đẻ của Đ là ông Lại Văn L1, sinh năm 1953 ở xóm 1, xã N1, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định để quản lý (theo đề nghị của Đ).

Tại Cơ quan điều tra, Lại Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Cáo trạng số 05/QĐ-KSĐT ngày 02 tháng 02 năm 2024 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Lại Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà:

Bị cáo Lại Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX, tuyên bố bị cáo Lại Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Lại Văn Đ từ 18 tháng đến tháng 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, loại ma túy Heroine đã thu của Lại Văn Đ.

Bị cáo Lại Văn Đ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị

cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người làm chứng; biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/12/2023 Lại Văn Đ có hành vi cất giấu chất ma túy có trọng lượng 0,198 gam ma túy Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS.

Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung. Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều

tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, xét thấy nên giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung.

Hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine đã thu của Lại Văn Đ.

Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lại Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Lại Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy Heroine đã thu của Lại Văn Đ có trong bì thư số 191/GĐKTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 23/THA ngày 19 tháng 02 năm 2024 giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lại Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lại Văn Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ