vanban.org

Bản án 10/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 03/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, bên trong có 0,48 gam ma túy Heroine mẫu M1, 0,11 gam ma túy Heroine mẫu M2; 1,55 gam ma túy Heroine mẫu M3 còn lại sau trích mẫu giám định; 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu đỏ có nắp vặn bằng nhựa trắng được niêm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng Thị S phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tống tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HSST
Ngày 03 - 02 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hòa

2. Ông Sần Thó Suy

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05//2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Sùng Thị S, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1999 tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sùng A và bà Vàng Thị Sầu (đã chết). Bị cáo có chồng là Hầu A Phinh, sinh năm 1998 và có 03 (ba) người con, con lớn nhất sinh năm 2016 nhỏ sinh nhất năm 2022. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2023, đến ngày 21/12/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo Sùng Thị S là Bà Nguyễn Thị Hương Thủy

- sinh năm 1983 Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai (Có mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến: Bà Sùng Thị D – sinh năm 1992 Địa chỉ: Thôn P, xã Y Tý, huyện B, tỉnh Lào Cai (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 15/12/2023, Công an xã Y Tý, huyện B kiểm tra hành chính nhà ông Sùng A , tại Thôn P, xã Y Tý, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện Sùng Thị S là con gái của ông Sùng A có biểu hiện phạm tội ma tuý nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra Sùng Thị S tự giác lấy từ trong túi giả da đang đeo trên người ra giao nộp cho tổ công tác: 02 gói nilon màu hồng, 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu đỏ, nắp xoáy màu trắng bên trong 02 gói nilon và lọ nhựa đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Sùng Thị S khai nhận là ma tuý Heroine cất giấu với mục đích bán kiếm lời. Tổ công tác Công an xã Y Tý tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngoài ra còn tạm giữ của Sùng Thị S 01 (một) tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 01(Một) căn cước công dân mang tên Sùng Thị S; 01 (Một) túi giả da màu đen có quai đeo đã qua sử dụng.

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Sùng Thị S khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 05/12/2023, Sùng Thị S đi lấy củi thì gặp người nam giới khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ cụ thể). Bị cáo hỏi mua của người nam giới 01 gói ma tuý Heroine với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo mang ma túy về nơi ở tại Thôn P, xã Y Tý, huyện B dùng lưỡi dao lam chia thành các cục nhỏ và cất dấu vào 02 túi nilon, 01 lọ nhựa màu đỏ hình trụ có nắp vặn màu trắng và dự định bán với giá 50.000 đồng/ cục. Đến khoảng 14 giờ ngày 15/12/2023, Sùng Thị S đã bán cho người nam giới khoảng 40 tuổi (không rõ, tên, địa chỉ cụ thể) 04 cục nhỏ với giá 200.000 đồng. Đến 15 giờ 45 phút khi Sùng Thị S đang ở nhà thì bị Lực lượng Công an xã Y Tý, huyện B kiểm tra bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B, tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của Sùng Thị S ngày 15/12/2023. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 16/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai xác định:

01 (Một) gói được gói ngoài bằng nilon màu hồng, bên trong gói chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng có khối lượng là 0,55 gam (không phẩy năm mươi lăm) ký hiệu mẫu M1.

01 (Một) gói được gói ngoài bằng nilon màu hồng, bên trong gói chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng có khối lượng là 0,17 gam (không phẩy mười bẩy) ký hiệu mẫu M2.

01 (một) ống nhựa hình trụ tròn màu đỏ có nắp dạng xoáy màu trắng, bên trong ống nhựa chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục có khối lượng là 1,69 gam (Một phẩy sáu mươi chín) ký hiệu mẫu M3.

Trích từ mẫu M1: 0,07 (không phẩy không bẩy), trích từ mẫu M2: 0,06 gam (Không phẩy không sáu) ; trích từ mẫu M3: 0,14 gam (không phẩy mười bốn) để giám định, hoàn lại Cơ quan trưng cầu mẫu M1: 0,48 gam; mẫu M2: 0,11 gam; mẫu M3: 1,55 gam.

Tại bản kết luận giám định số 07 ngày 21/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 2,41gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi đi giám định đều là loại chất ma túy Heroine.

Cáo trạng số 05/CT- VKS ngày 19/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Sùng Thị S về tội " Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Sùng Thị S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Sùng Thị S với mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Sùng Thị S.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy mẫu M1: 0,48 gam heroine; mẫu M2: 0,11 gam heroine; mẫu M3: 1,55 gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu đỏ có nắp vặn bằng nhựa trắng; 01 túi giả da màu đen có dây đeo đã qua sử dụng; 01 lưỡi dao đã qua sử dụng;

Tịch thu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Sùng Thị S để sung vào ngân sách Nhà nước.

Tuyên án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của huyện B, tỉnh Lào Cai và có xác nhận của phòng dân tộc huyện B, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo.

Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người bào chữa trình bày lời bào chữa đối với bị cáo Sùng Thị S Đề nghị Hội đồng xét xét xử căn cứ và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì bị cáo là người dân tộc thiểu số hạn chế về nhận thức. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Sùng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo với mức án từ 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Bị cáo Sùng Thị S không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng, vì vậy đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Sùng Thị S là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của huyện B, tỉnh Lào Cai và có xác nhận của phòng dân tộc huyện B, tỉnh Lào Cai theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng Thị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tống tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Khoảng 12 giờ ngày 05/12/2023, bị cáo Sùng Thị S đã mua của một người nam giới, không biết tên, địa chỉ cụ thể ở khu vực thuộc Thôn P, xã Y Tý, huyện B được 01 gói ma tuý Heroine với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Sùng Thị S mang về nơi ở và chia thành các cục nhỏ và cất dấu vào 02 túi nilon, 01 lọ nhựa màu đỏ hình trụ và bán với giá 50.000 đồng/cục. Đến khoảng 14 giờ ngày 15/12/2023, bị cáo Sùng Thị S đã bán cho người nam giới khoảng 40 tuổi (không rõ, tên, địa chỉ cụ thể) 04 cục nhỏ với giá 200.000 đồng. Đến 15 giờ 45 phút khi Sùng Thị S đang ở nhà tại Thôn P, xã Y Tý thì bị Lực lượng Công an xã Y Tý, huyện B kiểm tra bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Sùng Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo biết việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng ngày 15/12/2023 bị cáo đã mua 2,41 gam Heroine mục đích để bán kiếm lời. Vì vậy, cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Sùng Thị S. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Tẩn San Mẩy mức án từ 02 (hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức án đề nghị của người bào chữa là thấp không phù hợp hành vi, mục đích phạm tội của bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận mức đề nghị của người vào chữa.

Về vật chứng vụ án: Sau giám định số vật chứng còn lại tại mẫu M1: 0,48 gam heroine; mẫu M2: 0,11 gam heroine; mẫu M3: 1,55 gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu đỏ có nắp vặn bằng nhựa trắng; 01 túi giả da màu đen có dây đeo đã qua sử dụng; 01 lưỡi dao đã qua sử dụng. Xét đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, mua bán và vật không có giá trị sử dụng cần tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo, đây là số tiền bị cáo bán ma túy mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước, xét thấy là phù hợp.

Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo ngày 15/12/2023. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với người nam giới đã mua ma túy của bị cáo với giá 200.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý xét thấy là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn của huyện B, tỉnh Lào Cai và có xác nhận của phòng dân tộc huyện B, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì vậy bị cáo Sùng Thị S được miễn án phí hình sự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luât.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng Thị S 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, bên trong có 0,48 gam ma túy Heroine mẫu M1, 0,11 gam ma túy Heroine mẫu M2; 1,55 gam ma túy Heroine mẫu M3 còn lại sau trích mẫu giám định; 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu đỏ có nắp vặn bằng nhựa trắng được niêm phong đúng quy định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai trên bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị S ngày 15/12/2023 tại Thôn P, xã Y Tý, huyện B, tỉnh Lào Cai” và 01 túi giả da màu đen có dây đeo đã qua sử dụng; 01 lưỡi dao lam đã qua sử dụng.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án huyện B).

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Sùng Thị S

(Theo biên bản giao nhận tài sản ngày 26/12/2023 giữa Công an huyện B và Kho bạc nhà nước Bát Xát)

Về án phí: Bị cáo Sùng Thị S được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ