- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày 29 - 02 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sáu
Ông Hoàng Văn Lược
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Lan, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Anh - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HS ngày 16/02/2024 đối với bị cáo:
LÊ BÁ H, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1991 tại thị xã Bỉm Sơn; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: SN 89 đường Lê Lợi, khu phố 7, phường Đ, thị xã B, tỉnh T; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Bá H; con bà: Nguyễn Thị H; Vợ, con chưa; Tiền sự: không; Tiền án: 02 tiền án: Ngày 26/10/2017 bị TAND quận Hoàng M, TP Hà N xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 07/5/2020 chấp hành án xong; Ngày 15/03/2022, bị TAND thị xã B xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 20/10/2022 chấp hành án xong; (Bản án này bị cáo tàng trữ với khối lượng là 0,012 gam ma tuý, loại Methamphetamine, đã sử dụng tiền án ngày 26/10/2017 làm tình tiết định khung hình phạt nên không tính là tái phạm); Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023, ngày 09/11/2023 chuyển tạm giam; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh T (có mặt).
* Những người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1984
Trú quán: Khu phố 11, phường N, thị xã B, tỉnh T
2. Anh Nguyễn Đình V, sinh năm 1984
Trú quán: Khu phố 2, phường B, thị xã B, tỉnh T
3. Anh Trần Khắc Q, sinh năm 1988
Trú quán: Khu phố Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh T
4. Anh Lê Ngọc T, sinh năm 1966
Trú quán: Thôn Đ, xã Y, huyện H, tỉnh T
5. Anh Trịnh Quốc V, sinh năm 1974
Trú quán: Khu phố 4, phường B, thị xã B, tỉnh T.
(Những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút, ngày 31/10/2023 Công an phường B phối hợp với Công an phường B, thị xã B làm nhiệm vụ tại khu vực cổng Công ty STECH Vina thuộc khu A khu Công nghiệp B, thị xã B phát hiện Lê Bá Hoàng (là công nhân công ty Stech Vina thuộc khu A Khu công nghiệp B) đang đi bộ bên ngoài cổng Công ty có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý. Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện thấy Lê Bá H móc trong túi quần bên trái 01 (một) vật đưa vào miệng nuốt bị Công an ngăn chặn thì Hoàng nhả trong miệng ra 01 (một) gói nhỏ kích thước khoảng (3,5 x 2,5)cm. Tại chỗ Lê Bá H khai nhận gói nhỏ vừa nhả ra khi lực lượng công an kiểm tra, thu giữ được là ma tuý (Heroine) mà H đang chuẩn bị bán cho Nguyễn Văn H1 với giá tiền 500.000đ, khi đang chuẩn bị giao ma tuý cho H thì bị Công an phát hiện nên đã bỏ gói ma tuý vào miệng định nuốt thì lực lượng Công an ngăn chặn và thu giữ số ma tuý trên. Công an đã tiến hành mời người chứng kiến và đưa đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Bắc Sơn, thị xã B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) gói kích thước khoảng (3,5 x 2,5) cm được gấp bằng tờ tiền giấy mệnh giá 2.000đ (hai nghìn Việt Nam đồng) số SL5954394; tiếp đến là vỏ kẹo DOUBLEMIN màu xanh bên trong có 03 (ba) gói nhỏ, kích thước mỗi gói khoảng (1,5 x 1)cm được gói bằng vỏ giấy bạc bao thuốc lá màu vàng, bên trong các gói nhỏ đều chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn (niêm phong ký hiệu M1).
- 01 (một) Chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A20s, màu đen, số sêri: R9AM 910V8HJ, số IMEI (khe 1): 358244104693660, số IMEI (khe 2): 358245104693667, bên trong có một sim thuê bao số 0349477980, đã cũ, màn hình bị vỡ.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Bá H nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản gì.
Ngày 31/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn ra Quyết định trưng cầu giám định số 165/QĐ-CSĐT giám định chất ma túy đối với mẫu vật cần giám định trong các phong bì niêm phong được kí hiệu M1.
Tại bản kết luận giám định số 4047/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
Phong bì ký hiệu M1 bên trong chứa đựng 01(một) gói kích thước khoảng (3,5 x 2,5) cm được gấp bằng tờ tiền giấy mệnh giá 2.000đ số SL5954394; tiếp đến là vỏ kẹo DOUBLEMIN màu xanh bên trong có 03 (ba) gói nhỏ, kích thước mỗi gói khoảng (1,5 x 1) cm được gói bằng vỏ giấy bạc bao thuốc lá màu vàng, bên trong các gói nhỏ đều chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn thu của Lê Bá H có tổng khối lượng (trọng lượng) là: 0,213 gam là ma túy loại Heroine.
Ngày 23/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn ra Quyết định trưng cầu giám định số 173/QĐ-CSĐT giám định 01 chiếc điện thoại của Lê Bá Hoàng trong phong bì niêm phong.
Tại bản kết luận giám định số 4419/KL-KTHS ngày 07/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
Trong thời gian từ ngày 26/10/2023 đến ngày 31/10/2023 tìm thấy 468 cuộc gọi, 134 tin nhắn Messenger, 266 tin nhắn Telegram, 136 ảnh chụp màn hình thể hiện tin nhắn Zalo trong điện thoại gửi giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Bá H khai nhận: Tối ngày 30/10/2023, Lê Bá H đến khu vực cầu Trì Chính thuộc huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình mua 02 (hai) gói ma túy heroine của một người đàn ông tên là C - sinh năm 1992 ở huyện K, Ninh B với giá 1.200.000 đồng. Sau đó, H ra khu vực nghĩa trang gần đó sử dụng một phần và chia thành 09 (chín) gói nhỏ để dễ sử dụng và bán kiếm lời. Trên đường đi từ Kim Sơn, Ninh Bình về Bỉm Sơn thì có Nguyễn Văn H1 đã gọi điện hỏi mua 02 gói ma túy heroine với giá 300.000đ thì H đồng ý. H trực tiếp đến nhà của H1 đưa ma túy cho H1 và nhận tiền. Số ma tuý còn lại H đã sử dụng 03 gói vào tối ngày 30/10/2023. Còn lại 04 gói, sáng ngày 31/10/2023 H mang theo trên người đi làm tại công ty. Tại đây H đã sử dụng 01 gói còn lại 03 gói H cất giấu trong người. Đến trưa cùng ngày, H1 tiếp tục hỏi mua của H 03 gói ma túy heroine, H đồng ý bán với giá 500.000đ và hẹn H1 đến cổng công ty lấy. Sau đó H1 gọi xe taxi đến cổng công ty của H thì H yêu cầu H1mua 01 chai nước. Khi H1 mua được nước, quay lại điểm hẹn và gọi điện cho H ra để lấy ma túy, lúc này H bị Công an kiểm tra, bắt quả tang, H1 thấy H bị bắt nên đã bỏ chạy.
Ngoài lần bán ma tuý bị bắt quả tang, Lê Bá H đã tự thú khai nhận bán ma túy 03 lần khác nữa, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng đầu giờ sáng ngày 27/10/2023, Trần Khắc Q (Q “L” gọi điện thoại cho H hỏi mua 200.000đ ma tuý, loại Heroine, H đồng ý bán và hẹn Qđợi ở khu bãi đất băng chuyền chở vật liệu của nhà máy xi măng Bỉm Sơn (cách cây xăng trên đường Phạm Hùng khoảng vài trăm mét về phía nhà máy xi măng Bỉm Sơn). Khi H ra đến điểm hẹn thì thấy Q đang ngồi trong xe ô tô tải (không nhớ nhãn hiệu, đặc điểm, biển số). H đưa cho Q 01 gói ma tuý, Q nhận và đưa cho H số tiền 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng), H đi về và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ hai: Vào giữa buổi chiều ngày 27/10/2023, Nguyễn Đình V (V “H”, gọi điện thoại cho H hỏi mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) ma tuý, loại Heroine. H hẹn V đem qua khu bãi đất băng chuyền chở vật liệu của nhà máy xi măng Bỉm Sơn (cách cây xăng trên đường Phạm Hùng khoảng vài trăm mét về phía nhà máy xi măng Bỉm Sơn). Đến điểm hẹn thì thấy V đang đứng đợi, V đi xe máy Yamaha Nouvo màu đen không nhớ biển số. Vinh đưa cho Hoàng 200.000 đồng và H đưa cho V 01 gói ma tuý, H đi về và tiêu xài hết số tiền trên.
Lần thứ ba: Khoảng tối ngày 30/10/2023, trên đường đi mua ma tuý từ Ninh Bình về thị xã Bỉm Sơn thì Nguyễn Văn H1 đã gọi điện thoại cho H hỏi mua 02 gói ma tuý, loại Heroine với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). H1 hẹn H giao hàng tại nhà của H1 ở đường Hà Huy Tập, khu 11, phường N, thị xã B. Đến nơi H đưa ma tuý, H1 đưa tiền, sau đó H đi về và tiêu xài hết số tiền trên.
Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Văn H1, Nguyễn Đình V, Trần Khắc Q đến làm việc liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Lê Bá H. Tại Cơ quan điều tra, H1, V, Qđã khai nhận nguồn gốc số ma túy sử dụng là mua của Lê Bá H ngày 27/10/2023 và 30/10/2023 và đã sử dụng hết. Ngoài ra, Nguyễn Văn H1 còn khai nhận vào khoảng 12 giờ ngày 31/10/2023, tại khu vực khu vực cổng Công ty STECH Vina thuộc khu A khu Công nghiệp B, thị xã B đang chuẩn bị mua 03 gói ma túy loại Heroine của H với giá 500.000 đồng thì thấy H bị Lực lượng công an bắt giữ nên đã bỏ chạy.
Về nguồn gốc số ma túy: Toàn bộ số ma tuý của Lê Bá H bán các ngày 27/10/2023 và 30/10/2023 theo H khai là mua của đối tượng Nguyễn Văn C, sinh năm 1992, trú tại xóm 2, xã Đ, huyện K, tỉnh N, việc mua bán không có ai biết hay chứng kiến. Sau khi mua được ma túy H mang về cất giấu tại nhà ở để sử dụng dần và bán cho những người có nhu cầu mua sử dụng. Về nguồn gốc số ma túy trên, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để tiến hành điều tra nhưng đến nay chưa xác định được Chiện nay đi đâu, làm gì. Do đó chưa đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý đối tượng C trong vụ án này.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) Phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong chứa toàn bộ số ma tuý sau giám định được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Lê Minh T, Phạm Văn T, Nguyễn Văn T.
- 01 (một) Phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong chứa 01 Điện thoại di động Samsung màu đen thu giữ của Lê Bá H sau giám định, được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Ngọc Khiêm, Trần Thị Hồng.
Được chuyển tới Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản và chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lê Bá H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKSBS ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố bị cáo Lê Bá H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Lê Bá H từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản riêng, đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS để phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động Samsung màu đen của Lê Bá H;
+ Số tiền 622.000 đồng (Trong đó: 620.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy của bị cáo đã được gia đình nộp khắc phục và 2.000 đồng là tờ tiền bị cáo dùng để gói ma túy).
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy sau giám định.
(Hiện số vật chứng đang được lưu trữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn)
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Bá Hoàng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 31/10/2023, tại khu vực cổng Công ty STECH Vina thuộc khu A khu Công nghiệp Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, Lê Bá H đang chuẩn bị bán trái phép 01 (một) gói ma tuý, có tổng khối lượng 0,213g loại Heroine cho Nguyễn Văn H1 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Ngoài ra, vào ngày 27 và 30/10/2023, Lê Bá Hoàng đã bán trái phép chất ma tuý cho Trần Khắc Q, Nguyễn Đình V, Nguyễn Văn H1, thu lợi tổng số tiền 620.000đ
Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định và xử lý theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo không những xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây hậu quả rất nguy hiểm cho xã hội. Bởi ma túy là một loại chất gây nghiện, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, nòi giống, nhân cách, đạo đức và lối sống của con người. Ma túy chính là nguồn gốc để các loại tội phạm khác phát triển. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy và pháp luật quy định xử lý rất nghiêm minh đối với loại tội phạm này. Hơn nữa, bị cáo có 02 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
- Tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo có 02 tiền án: ngày 26/10/2017, bị TAND quận Hoàng Mai, TP Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và ngày 15/3/2022 bị TAND thị xã Bỉm Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 20/10/2022 chấp hành án xong (Bản án ngày 15/3/2022 bị cáo tàng trữ với khối lượng là 0,012 gam ma tuý, loại Methamphetamine, đã sử dụng tiền án ngày 26/10/2017 làm tình tiết định khung hình phạt nên không tính là tái phạm), nên lần phạm tội này của bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm”. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, tự thú khai báo ra lần phạm tội trước đó. Mẹ đẻ bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 620.000đ (sáu trăm hai mươi nghìn đồng) tại chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn (là tiền thu lợi bất chính do bị cáo bán ma tuý cho Q, V, H1), bị cáo có bà ngoại được tặng huy chương kháng chiến hạng nhì, ông ngoại được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS để phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 (một) Phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong chứa toàn bộ số ma tuý sau giám định được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Lê Minh Tiến, Phạm Văn Thao, Nguyễn Văn Thiện.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
+ 01 (một) Phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong chứa 01 Điện thoại di động Samsung màu đen thu giữ của Lê Bá Hoàng sau giám định, được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Ngọc K, Trần Thị H.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.000đ (hai nghìn đồng) đựng trong phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Lê Minh T, Phạm Văn T, Nguyễn Văn T.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 620.000đ là tiền thu lời bất chính của bị cáo, bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ bị cáo H) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn theo biên lai thu số: 0002021 ngày 29/01/2024.
Những tình tiết khác của vụ án:
- Đối với Nguyễn Văn Hiệp có hành vi mua ma tuý của Lê Bá H để sử dụng ngày 30/10/2023. Do H1 đã sử dụng hết số ma tuý mua của H trong ngày nên không xác định được trọng lượng ma tuý. Đến ngày 31/10/2023, Hiệp tiếp tục liên hệ với H để mua ma tuý tiếp, nhưng khi chuẩn bị lấy ma tuý thì thấy H bị bắt nên Hiệp đã bỏ chạy, đi khỏi nơi cư trú. Ngày 09/11/2023, Hiệp tự nguyện đến Cơ quan Công an khai báo. Căn cứ kết quả xét nghiệm nước tiểu xác định: Nguyễn Văn H1 dương tính với chất ma túy heroine. Vì vậy Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” tại khoản 1 Điều 23 nghị định 144/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình đối với Nguyễn Văn H1 là phù hợp.
Đối với Trần Khắc Q và Nguyễn Đình Vcó hành vi mua ma túy của Lê Bá H để sử dụng ngày 27/10/2023. Do Q và V đã sử dụng hết số ma túy mua của H nên không xác định được trọng lượng ma túy. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu hai đối tượng trên tại thời điểm làm việc, xác định không có chất ma túy. Vì vậy, không xử lý đối với Trần Khắc Q và Nguyễn Đình V là phù hợp.
Án phí HSST bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
* Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá Hoàng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Lê Bá H 08 (tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ 31/10/2023.
* Xử lý tang vật: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) Phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong chứa toàn bộ số ma tuý sau giám định được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Lê Minh T, Phạm Văn T, Nguyễn Văn T.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
+ 01 (một) Phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong chứa 01 Điện thoại di động Samsung màu đen thu giữ của Lê Bá H sau giám định, được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Nguyễn Ngọc K, Trần Thị H.
+ Số tiền 2.000đ (hai nghìn đồng) đựng trong phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong chứa toàn bộ số ma tuý sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các chữ ký, chữ viết của Lê Minh T, Phạm Văn T, Nguyễn Văn T.
(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 01/02/2024 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn)
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 620.000đ (sáu trăm hai mươi nghìn đồng) bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ bị cáo H) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn theo biên lai thu số: 0002021 ngày 29/01/2024.
* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo buộc bị cáo Lê Bá H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/02/2024)./.
| Nơi nhận: - VKSND Thị xã Bỉm sơn; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Nhà tạm giữ CA huyện Hà Trung; - CQĐT Công an thị xã Bỉm Sơn; - CQ Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Phòng giám đốc án; - THA Dân sự TX Bỉm sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TỐNG THỊ HÀ |