vanban.org

Bản án 10/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 02/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Dương Đức M phạm tội “Nhận hối lộ”; bị cáo Nguyễn Kim D phạm tội “Đưa hối lộ”. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Đức M, Nguyễn Kim D - phạm tội nhận hối lộ (điều 354 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 354 Bộ luật Hình sự; Điều 364 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày 02-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Minh Quán

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Tiến và bà Phạm Thị Mai.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 02/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2024/TLST-HS ngày 19/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST - HS ngày 15/3/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Đức M, (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam.

Sinh ngày 31/10/1979. Tại huyện KB, tỉnh Hà Nam

Nơi cư trú: Số nhà 130, đường NVS, tổ 19, phường LC, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Đăng kiểm viên bậc cao, Phó giám đốc Công ty cổ phần Đăng kiểm xe cơ giới giao thông Lào Cai.

Là đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, (Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng).

Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

Con ông Dương Thanh B (Đã chết) và con bà Đặng Thị N.

Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Bị cáo có vợ là Nguyễn Thúy Q và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai.

2. Họ tên: Nguyễn Kim D; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam;

Sinh ngày 08/3/1984. Tại huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai;

Nơi cư trú: Tổ 12, phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai;

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp trước khi bị bắt: Giám đốc Công ty TNHH TMTH VL Lào Cai;

Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt.

Con ông Nguyễn Kim D1 và con bà Nguyễn Thị D2.

Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba;

Bị cáo có vợ là Trần Thị Thanh V, và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2021;

Bị can Nguyễn Kim D bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2023 đến ngày 14/7/2023. Từ ngày 15/7/2023 đến nay đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn: Bảo Lĩnh.

(Các bị cáo đều mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Kim D: Ông Lê Trường S– Luật sư, Công ty luật hợp danh TV, Đoàn Luật sư tỉnh Lào Cai (Có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn D3 – Địa chỉ: Tổ 24, phường BC, thành phố LC, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt).

- Ông Vũ Trường S1 – Địa chỉ: Tổ 9, phường NC, thành phố LC, tỉnh Lào Cai (Có mặt).

- Công ty TNHH sản xuất và thương mại DS;

Địa chỉ: Thôn M1, xã XG, huyện BT, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T2– Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn P– Phó Giám đốc (Có mặt).

- Công ty TNHH MTV sản xuất OC Lào Cai.

Địa chỉ: Tổ 25, phường BC, thành phố LC, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Ngọc H– Giám đốc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Đức M là Phó giám đốc Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới giao thông đường bộ Lào Cai (24.01D), được Giám đốc Công ty cổ phần đăng kiểm giao cho phụ trách công tác nghiệm thu cải tạo và cấp giấy chứng nhận cho phương tiện đủ điều kiện để được kiểm định và lưu hành cùng với các đăng kiểm viên bậc cao Nguyễn Văn D3 (Phó Giám đốc), Vũ Trường S1 (Trưởng phòng kiểm định) tiến hành nghiệm thu cải tạo đối với các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Dương Đức M biết trên địa bàn tỉnh Lào Cai không có cơ sở nào được cấp giấy phép làm hồ sơ thiết kế, cải tạo nên đã tìm hiểu và xin số điện thoại để liên hệ với các Công ty được cấp phép thiết kế, thi công cải tạo xe cơ giới tại thành phố Hà Nội, cụ thể: M đã trực tiếp liên hệ với Nguyễn Văn Ph, là Giám đốc Công ty TNHH ô tô ALPHA và Đỗ Ngọc Th, trước đây là nhân viên của Công ty cổ phần dịch vụ và kỹ thuật ô tô TP do Trần Quốc T3 là tổng giám đốc đặt vấn đề làm hồ sơ thiết kế cải tạo các ô tô khi có các chủ phương tiện yêu cầu.

Khi các chủ phương tiện đặt vấn đề nhờ làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận cho phương tiện đủ điều kiện để được kiểm định và lưu hành, Dương Đức M đã nhận tiền và yêu cầu chủ xe chuyển giấy tờ liên quan đến xe cải tạo chuyển cho M (Yêu cầu khách hàng chụp ảnh xe và giấy đăng ký, đăng kiểm xe gửi trực tiếp hoặc qua qua ứng dụng Zalo cho M). Sau đó M thực hiện:

Đối với các hồ sơ làm tại Công ty TP, M gửi qua Zalo cho Th và chuyển tiền vào tài khoản của Th. Th chuyển thông tin cho các nhân viên của Công ty TP và thanh toán toàn bộ số tiền nhận của M về Công ty TP cho Trần Quốc T3 - Tổng giám đốc. Sau khi nhận hồ sơ, Công ty TP trao đổi, thống nhất với M làm các hồ sơ thiết kế cải tạo, biên bản nghiệm thu xuất xưởng. Sau khi làm xong Công ty TP đã chuyển hồ sơ bằng xe khách theo địa chỉ của M. Khi nhận được hồ sơ M gửi thiết kế cho khách hàng yêu cầu tự mang xe đi cải tạo như thiết kế và M trực tiếp nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa của Sở Giao thông Vận tải – Xây dựng Lào Cai, xin cấp giấy chứng nhận thẩm định thiết kế xe cơ giới cải tạo. Khi có giấy chứng nhận thẩm định thiết kế, M thông báo cho khách hàng đưa phương tiện đến Công ty đăng kiểm 24.01D để kiểm tra nghiệm thu phương tiện. Khi nhận hồ sơ do Công ty TP chuyển đến có một số nội dung còn để trống như: Ngày, tháng nghiệm thu xuất xưởng; Văn bản đề nghị nghiệm thu, chữ ký tại mục “Đại diện cơ sở thi công”, Dương Đức M đã tự hoàn thiện hoặc nhờ khách hàng hoặc chủ phương tiện ký vào chữ ký mục “Đại diện cơ sở thi công”. Khách hàng đưa phương tiện đến nghiệm thu cải tạo Dương Đức M giao cho Nguyễn Văn D3 hoặc Vũ Trường S1 tiến hành kiểm tra các hạng mục cải tạo theo thiết kế, nhưng thành phần tham gia không có Đại diện cơ sở thi công, nhưng M, D3 và S1 vẫn xác nhận đủ điều kiện và ký biên bản kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo để phương tiện được kiểm định và lưu hành.

Đối với các hồ sơ làm tại Công ty ALPHA, Dương Đức M liên hệ trực tiếp với Nguyễn Văn Ph, giám đốc, trao đổi thống nhất và gửi thông tin những xe làm thiết kế cải tạo cho Ph. M yêu cầu khách hàng tự cải tạo, có trường hợp M đến kiểm tra thông số của cẩu, chụp ảnh xe và giấy đăng ký, đăng kiểm xe gửi qua ứng dụng Zalo gửi cho Ph, Ph làm khống hồ sơ thiết kế cải tạo, lập biên bản nghiệm thu xuất xưởng gửi cho M qua dịch vụ chuyển phát nhanh hoặc gửi qua hãng xe khách. Sau khi nhận được hồ sơ thiết kế cải tạo, M trực tiếp nộp qua bộ phận một cửa của Sở Giao thông Vận tải – Xây dựng tỉnh Lào Cai xin cấp giấy chứng nhận thẩm định thiết kế xe cơ giới cải tạo, khi có giấy chứng nhận thẩm định thiết kế, M thông báo cho khách hàng đưa phương tiện đến Công ty đăng kiểm 24.01D để nghiệm thu cải tạo. Trong hồ sơ thiết kế thi công, Ph gửi cho M có để trống một số thông tin, như chưa có chữ ký tại mục “Cán bộ kỹ thuật” đứng tên Dương Văn C là nhân viên của Công ty ALPHA và mục “Đại diện cơ sở thi công” do Công ty ALPHA không cử cán bộ xuống trực tiếp, M đã nhờ chủ phương tiện hoặc khách hàng ký vào. Khi khách hàng đưa phương tiện đến nghiệm thu cải tạo, M giao cho Nguyễn Văn D3 và Vũ Trường S1 tiến hành kiểm tra các hạng mục cải tạo theo thiết kế, nhưng thành phần tham gia không có Đại diện cơ sở thi công, do D3 và S1 không tiến hành kiểm tra đầy đủ các hạng mục theo quy định, như không đo chiều dài tầm vươn xa của cẩu, không đo lòng thùng hàng, không kiểm tra các kích thước giá để quan tài, kích thước ghế….dẫn đến việc nghiệm thu không đúng quy định, nhưng M, D3 và S1 vẫn xác nhận đủ điều kiện và ký biên bản kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo để phương tiện được kiểm định và lưu hành.

Quá trình điều tra đã xác định: Từ năm 2019 đến năm 2022 Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới giao thông Lào Cai 24.01D đã nghiệm thu 150 hồ sơ xe ô tô cải tạo của Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật ô tô TP, 22 hồ sơ của Công TNHH ô tô ALPHA và đã làm rõ Nguyễn Kim D đã nhiều lần đưa tiền thỏa thuận, thống nhất với Dương Đức M để làm khống hồ sơ thiết kế cải tạo sai quy định 07 xe ô tô cải tạo từ xe tải thùng sang xe tải gắn cần cẩu và 02 xe ô tô kiểm định. Dương Đức M đã nhận của Nguyễn Kim D tổng số tiền là 125.000.000 đồng. Cũng trong khoảng thời gian này ngoài nhận tiền, hồ sơ của Nguyễn Kim D, Dương Đức M còn nhiều lần trực tiếp nhận tiền và hồ sơ của nhiều cá nhân khác để làm hồ sơ thiết kế cải tạo, nghiệm thu an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sai quy định. Cụ thể nhận của anh Hoàng Xuân T4 05 hồ sơ, nhận của anh Trần Quyết Th1 03 hồ sơ và nhận của 27 chủ phương tiện khác trên địa bàn tỉnh Lào Cai 27 hồ sơ. Tổng cộng Dương Đức M đã nhận để làm hồ sơ thiết kế cải tạo, nghiệm thu an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sai quy định là 44 hồ sơ (trong đó có 42 hồ sơ thiết kế cải tạo, 02 hồ sơ kiểm định) và nhận tổng số tiền là 371.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 22/KL - KTHS ngày 20/6/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Chữ viết tên “C” dưới mục “Đại diện cơ sở thi công”; “Cán bộ kỹ thuật” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A57 với chữ ký, chữ viết “C” do Dương Văn C ký và viết ra trên mẫu so sánh không do cùng một người viết ra.

Kết luận giám định số 35/KL - KTHS ngày 05/9/2023, của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG TY TNHH Ô TÔ ALPHA” trên các tài liệu giám định với hình tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký mang chức danh “GIÁM ĐỐC – Nguyễn Văn Ph” trên các tài liệu cần giám định với chữ ký của Nguyễn Văn Ph trên mẫu so sánh do cùng một người ký ra.

Kết luận giám định số 36/KL - KTHS ngày 05/9/2023, của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ VÀ KỸ THUẬT Ô TÔ TP” trên các tài liệu giám định với hình tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký mang mang tên Phạm Hoàng Ph1; dấu chức danh “PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC – Phạm Hoàng Ph1” trên các tài liệu cần giám định được ký hiệu với chữ ký của Phạm Hoàng Ph1 trên mẫu so sánh do cùng một người ký ra. Chữ ký mang dấu chức danh danh “PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC – Phạm Hoàng Ph1” trên các tài liệu A278, A280, A281 không do cùng một người ký ra.

Kết luận giám định số 49/KL-KTHS ngày 24/11/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Chữ ký mang dấu chức danh “Phó tổng giám đốc – Mai Văn Q” trên các tài liệu cần giám định với chữ ký của “Mai Văn Q” trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký ra.

Kết luận giám định số 54/KL-KTHS ngày 19/12/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Chữ ký mang tên Phạm Mạnh T4; Vũ Trường S1; Nguyễn Văn D3; Lê Văn Lvà bị can Dương Đức M trên các tài liệu giám định với các mẫu so sánh đều do Phạm Mạnh T4; Vũ Trường S1; Nguyễn Văn D3; Lê Văn Liên và bị can Dương Đức M ký ra; 02 hình dấu tròn có nội dung CÔNG TY “C.P” và “CP” ĐĂNG KIỂM XE CƠ GIỚI GIAO THÔNG LÀO CAI trên các tài liệu giám định với các mẫu so sánh do cùng 02 hình dấu của CÔNG TY “C.P” và “CP” ĐĂNG KIỂM XE CƠ GIỚI GIAO THÔNG LÀO CAI đóng ra.

Kết luận giám định số 01/KL - GĐTP ngày 05/7/2023, của Hội đồng giám định tư pháp Sở giao thông Vận tải – Xây dựng tỉnh Lào Cai, kết luận: Theo điều 9 Thông tư 29 ngày 30/12/2019 của Bộ giao thông vận tải, việc tiến hành cải tạo đối với 03 phương tiện ô tô 24H – 008.43, 24H – 002.51, 24H – 011.83 của Nguyễn Kim D là không đúng theo quy trình, quy định về việc kiểm định trục cần cẩu tự hành có trước ngày nghiệm thu xuất xưởng xe cơ giới; Sai số về kích thước, khối lượng, các thông số kỹ thuật cải tạo của 03 xe ô tô trên không đúng với hồ sơ thiết kế cải tạo, không đúng với quy chuẩn 12/2011 của Bộ giao thông vận tải. Theo điều 10 thông tư 85/2014 ngày 31/12/2014 của Bộ giao thông vận tải, bị can Dương Đức M, Nguyễn Văn D3, Vũ Trường S1 tiến hành nghiệm thu không thực hiện đầy đủ nội dung theo quy trình, quy định nghiệm thu xe cơ giới cải tạo, nghiệm thu sai quy định của pháp luật. Hồ sơ nghiệm thu xe cơ giới thiếu bản sao giấy xác nhận của cơ sở cải tạo các tài liệu thông số, tính năng kỹ thuật của xe và các tổng thành cải tạo, thay thế và tài liệu xác nhận nguồn gốc của hệ thống, tổng thành cải tạo.

Kết luận giám định số: 02/KL-GĐTP ngày 03 tháng 10 năm 2023, của Hội đồng giám định tư pháp Sở Giao thông Vận tải - Xây dựng tỉnh Lào Cai, kết luận Dương Đức M, Nguyễn Văn D3 và Vũ Trường S1 là các Đăng kiểm viên thuộc Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới giao thông Lào Cai 24.01D đã tiến hành nghiệm thu 08 chiếc xe ô tô BKS: 24B-006.34; 24B-008.24; 24B-010.65; 24B-007.12; 24B-004.27; 24N-6730; 24N-6827; 24B-007.52, không thực hiện đầy đủ nội dung theo quy trình, quy định nghiệm thu xe cơ giới cải tạo; Nghiệm thu sai quy định của pháp luật. Việc cấp giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với 8 chiếc xe ô tô trên là không đúng quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 01/CT-VKS-P1, ngày 17/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Dương Đức M về tội: “Nhận hối lộ” theo điểm c, đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Kim D về tội: “Đưa hối lộ” theo điểm đ, e khoản 2 Điều 364 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

Các bị cáo Dương Đức M và Nguyễn Kim D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai trình bày lời luận tội và tranh luận, giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Đức M phạm tội “Nhận hối lộ”; bị cáo Nguyễn Kim D phạm tội “Đưa hối lộ”.

Căn cứ vào điểm c, đ khoản 2; khoản 5 Điều 354, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Đức M từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Cấm bị cáo Dương Đức M đảm nhiệm chức vụ 03 năm tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Căn cứ vào điểm đ, e khoản 2 Điều 364, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Kim D phát biểu quan điểm bào chữa: Nhất trí với quan điểm của đại diện VKSND về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Dương Đức M là Phó giám đốc Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới giao thông đường bộ Lào Cai (24.01D), được Giám đốc Công ty cổ phần đăng kiểm giao cho phụ trách công tác nghiệm thu cải tạo và cấp giấy chứng nhận cho phương tiện đủ điều kiện để được kiểm định và lưu hành cùng với các đăng kiểm viên bậc cao Nguyễn Văn D3 (Phó Giám đốc), Vũ Trường S1 (Trưởng phòng kiểm định) tiến hành nghiệm thu cải tạo đối với các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Dương Đức M biết trên địa bàn tỉnh Lào Cai không có cơ sở nào được cấp giấy phép làm hồ sơ thiết kế, cải tạo nên đã liên hệ với các Công ty được cấp phép thiết kế, thi công cải tạo xe cơ giới tại thành phố Hà Nội là Công ty TNHH ô tô ALPHA do Nguyễn Văn Ph làm Giám đốc và Công ty cổ phần dịch vụ và kỹ thuật ô tô TP do Trần Quốc T3 làm Tổng giám đốc đặt vấn đề làm hồ sơ thiết kế cải tạo các ô tô khi có các chủ phương tiện yêu cầu.

Khi các chủ phương tiện đến gặp đưa tiền và đặt vấn đề nhờ Dương Đức M lo làm thủ tục và cấp giấy chứng nhận cho phương tiện đủ điều kiện để được kiểm định và lưu hành, Dương Đức M đã nhận tiền, yêu cầu các chủ xe chuyển giấy tờ liên quan đến xe cải tạo chuyển cho M (Yêu cầu khách hàng chụp ảnh xe và giấy đăng ký, đăng kiểm xe gửi trực tiếp hoặc qua qua ứng dụng Zalo cho M). Sau đó Dương Đức M gửi hồ sơ qua Zalo và chuyển tiền cho các Công ty thống nhất làm các hồ sơ thiết kế cải tạo, biên bản nghiệm thu xuất xưởng. Sau khi làm xong các Công ty chuyển lại hồ sơ cho Dương Đức M. Khi nhận được hồ sơ M gửi hồ sơ thiết kế cho chủ phương tiện và yêu cầu họ tự mang xe đi cải tạo như thiết kế đồng thời M trực tiếp nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa của Sở Giao thông Vận tải – Xây dựng Lào Cai, xin cấp giấy chứng nhận thẩm định thiết kế xe cơ giới cải tạo. Khi có giấy chứng nhận thẩm định thiết kế, M thông báo cho chủ xe đưa phương tiện đến Công ty đăng kiểm 24.01D để kiểm tra nghiệm thu phương tiện. Khi nhận hồ sơ do các Công ty chuyển đến có một số nội dung còn để trống như: Ngày, tháng nghiệm thu xuất xưởng; Văn bản đề nghị nghiệm thu, chữ ký tại mục “Đại diện cơ sở thi công”, Dương Đức M đã tự hoàn thiện hoặc nhờ khách hàng hoặc chủ phương tiện ký vào chữ ký mục “Đại diện cơ sở thi công”. Khách hàng đưa phương tiện đến nghiệm thu cải tạo, Dương Đức M đã chỉ đạo Nguyễn Văn D3 hoặc Vũ Trường S1 tiến hành kiểm tra các hạng mục cải tạo theo thiết kế. Quá trình kiểm tra, nghiệm thu không có Đại diện cơ sở thi công tham gia nhưng Dương Đức M, Nguyễn Văn D3 và Vũ Trường S1 vẫn xác nhận đủ điều kiện và ký biên bản kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo để phương tiện được kiểm định và lưu hành.

Từ năm 2019 đến năm 2022 Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới giao thông Lào Cai 24.01D đã nghiệm thu 150 hồ sơ xe ô tô cải tạo của Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật ô tô TP, 22 hồ sơ của Công TNHH ô tô ALPHA. Trong đó Nguyễn Kim D đã nhiều lần đưa tiền thỏa thuận, thống nhất với Dương Đức M để làm M làm hồ sơ thiết kế cải tạo sai quy định 07 xe ô tô cải tạo từ xe tải thùng sang xe tải gắn cần cẩu và 02 xe ô tô kiểm định. Nguyễn Kim D đã đưa hối lộ cho Dương Đức M tổng số tiền là 125.000.000 đồng. Cũng trong khoảng thời gian này ngoài nhận tiền, hồ sơ của Nguyễn Kim D, Dương Đức M còn nhiều lần trực tiếp nhận tiền của nhiều cá nhân khác để làm hồ sơ thiết kế cải tạo, nghiệm thu an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sai quy định. Cụ thể nhận của anh Hoàng Xuân T4 05 hồ sơ, nhận của anh Trần Quyết Th1 03 hồ sơ và nhận của 27 chủ phương tiện khác trên địa bàn tỉnh Lào Cai 27 hồ sơ. Tổng cộng Dương Đức M đã nhận tiền để làm hồ sơ thiết kế cải tạo, nghiệm thu và cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sai quy định là 44 hồ sơ (trong đó có 42 hồ sơ thiết kế cải tạo, 02 hồ sơ kiểm định) và nhận hối lộ với tổng số tiền là 371.000.000 đồng.

Hành vi nhận tiền để làm hồ sơ thiết kế cải tạo, nghiệm thu và cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sai quy định của bị cáo Dương Đức M đã cấu thành tội “Nhận hối lộ” với tình tiết định khung “Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng và Phạm tội 02 lần trở lên”; Hành vi đưa tiền của bị cáo Nguyễn Kim D đã cấu thành tội “Đưa hối lộ” với tình tiết định khung “Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng và Phạm tội 02 lần trở lên”. Vì vậy bị cáo Dương Đức M bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố về tội “Nhận hối lộ” theo điểm c, đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Kim D bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố về tội “Đưa hối lộ” theo điểm đ, e khoản 2 Điều 364 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự:

. Hành vi của bị cáo Dương Đức M thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; Hành vi của bị cáo Nguyễn Kim D thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào công tác quản lý, sự hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo thật nghiêm khắc, đúng quy định của pháp luật để lấy đó làm bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Dương Đức M đã nộp lại toàn bộ số tiền mà bị cáo đã nhận hối lộ; quá trình công tác bị cáo đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhiều năm đạt danh hiệu Lao động tiên tiến, chiến sỹ thi đua cơ sơ, được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen; gia đình bị cáo có ông bà nội, ngoại, bố mẹ được nhà nước tặng thưởng nhiều huân huy chương, mẹ đẻ được tặng huy hiệu 30 năm tuổi Đảng; ông Ngoại được tặng huy hiệu 55 năm tuổi Đảng. Bị cáo Nguyễn Kim D đã đầu thú, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với bị cáo Dương Đức M cần phải có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội; Đối với bị cáo Nguyễn Kim D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành tốt các chủ chương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước. Sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thể hiện rõ sự ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần quyết định một mức án phù hợp nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định một thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương theo dõi, giám sát cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội cũng thể hiện được tính nghiêm M của pháp luật, đồng thời cho thấy tính khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội đã ăn năn hối cải sửa chữa những khuyết điểm, sai phạm của mình.

Về ý kiến đề nghị của những người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Kim D, Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà người bào chữa đề nghị là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên không được chấp nhận.

Về Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo Dương Đức M cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ một thời gian sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Trong vụ án còn có một số cá nhân, Công ty và Cơ quan có liên quan:

Đối với Nguyễn Văn D3 và Vũ Trường S1 là các Đăng kiểm viên bậc cao của Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới giao thông Lào Cai (24.01D). Quá trình nghiệm thu cải tạo các phương tiện trên, không có đại diện của các cơ sở thi công, không tiến hành kiểm tra đầy đủ các thông số kỹ thuật theo hồ sơ thiết kế cải tạo đã được thẩm định, nhưng vẫn xác nhận đủ điều kiện và ký vào biên bản kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo sai quy định. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn D3 và Vũ Trường S1 không bàn bạc, thống nhất với Dương Đức M để nghiệm thu xe cải tạo sai quy định, không được hưởng lợi ích tiền, vật chất khác từ Dương Đức M cũng như các chủ phương tiện; thực hiện theo sự chỉ đạo của M, không biết Dương Đức M thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn D3 và Vũ Trường S1, mà có văn bản đề nghị Cơ quan chức năng xem xét xử lý hành chính theo các quy định.

Đối với ông Phạm Mạnh T4 – Giám đốc Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới giao thông Lào Cai (24.01D) và một số người là các cán bộ của Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới giao thông Lào Cai. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Dương Đức M.

Đối với Hoàng Xuân T4, là người nhận tiền của 05 chủ phương tiện cải tạo 05 xe ô tô, sau đó đã đưa tiền, giấy tờ xe cải tạo cho Dương Đức M và Trần Quyết Th1 là người đưa tiền và giấy tờ xe ô tô cải tạo cho Dương Đức M để nhờ M làm hồ sơ thiết kế cải tạo đối với 03 xe ô tô của mình. Tiến và Thắng không biết việc M làm hồ sơ thiết kế cải tạo là sai quy định, không thỏa thuận, bàn bạc gì với M, mục đích là để nhờ M làm giúp hồ sơ để cải tạo xe cho các chủ phương tiện, không biết việc đưa tiền cho M là vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai không đề nghị xử lý.

Đối với 27 người là các chủ phương tiện đưa tiền nhờ Dương Đức M làm hồ sơ cải tạo, cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới cải tạo; Các chủ phương tiện trên là người dân làm nghề tự do, không nắm được các trình tự, thủ tục làm hồ sơ thiết kế, cải tạo phương tiện, mục đích cải tạo phương tiện là để phục vụ hoạt động kinh doanh vận tải của gia đình. Những người này đã chuyển hồ sơ, giấy tờ xe ô tô và tiền cho Dương Đức M, không biết việc M làm hồ sơ thiết kế cải tạo là sai quy định. Các chủ phương tiện đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra để làm rõ hành vi phạm tội của Dương Đức M nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai không đề nghị xử lý.

Đối với Công ty TNHH ô tô ALPHA, Nguyễn Văn Ph đã trực tiếp nhận của Dương Đức M 11 hồ sơ cải tạo phương tiện, Nguyễn Văn Ph đã lập khống biên bản nghiệm thu xuất xưởng các phương tiện; Văn bản đề nghị đăng kiểm; Bản kê tổng thành thay thế và ký vào các hồ sơ thiết cải tạo, sau đó chuyển cho Dương Đức M, để hợp thức hóa hồ sơ cải tạo, cho các phương tiện trên được nghiệm thu, đăng kiểm, lưu hành sai quy định. Ngày 17/02/2023, Nguyễn Văn Ph đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương khởi tố bị can về tội “Nhận hối” lộ xảy ra tại Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 34- 05D Hải Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã có chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công ty ALPHA cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương theo quy định.

Đối với Công ty cổ phần dịch vụ và kỹ thuật ô tô TP: Quá trình điều tra xác định được, Đỗ Ngọc Th là nhân viên của Công ty TP nhận 31 hồ sơ cải tạo của Dương Đức M, sau đó Th chuyển toàn bộ hồ sơ cho Phạm Hoàng Ph1 và Mai Văn Q là các Phó tổng giám đốc Công ty TP thực hiện làm hồ sơ thiết kế, cải tạo. Phạm Hoàng Ph1 và Mai Văn Q đã lập khống các biên bản nghiệm thu xuất xưởng các phương tiện và văn bản đề nghị đăng kiểm, bản kê tổng thành thay thế, sau đó chuyển cho Dương Đức M, để hợp thức hóa hồ sơ nghiệm thu cải tạo, đăng kiểm, lưu hành sai quy định. Ngày 09/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh đã khởi tố bị can đối với Mai Văn Q về hành vi “Đưa hố lộ”, xảy ra tại Cục đăng kiểm Việt Nam. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công ty TP cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 01 giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường; 01 tem kiểm định xe ô tô BKS: 24H-002.51 thu của Nguyễn Kim D; 01 giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường phương tiện xe cơ giới đường bộ và 01 tem kiểm định xe ô tô BKS 24H - 008.43 tạm giữ của Công ty TNHH sản xuất và thương mại DS; 01 giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường phương tiện xe cơ giới đường bộ và 01 tem kiểm định xe ô tô BKS 24H - 011.83 tạm giữ của Công ty TNHH MTV sản xuất OC Lào Cai đây là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro màu xanh thu của bị cáo Dương Đức M. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng kèm theo 01 sim điện thoại số 0972.132.210 thu của Nguyễn Kim D, các bị cáo đã sử dụng vào phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Số tiền 371.000.000 đồng do gia đình bị cáo Dương Đức M giao nộp đây là số tiền mà bị cáo Dương Đức M đã nhận hối lộ nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Dương Đức M phạm tội “Nhận hối lộ”; bị cáo Nguyễn Kim D phạm tội “Đưa hối lộ”.

Căn cứ vào điểm c, đ khoản 2; khoản 5 Điều 354, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Đức M mức án 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/02/2023. Cấm bị cáo Dương Đức M đảm nhiệm chức vụ 03 năm tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Căn cứ vào điểm đ, e khoản 2 Điều 364, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim D mức án 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường CL, thành phố LC, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 01 giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường; 01 tem kiểm định xe ô tô BKS: 24H-002.51 thu của Nguyễn Kim D; 01 giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường phương tiện xe cơ giới đường bộ và 01 tem kiểm định xe ô tô BKS 24H - 008.43 tạm giữ của Công ty TNHH sản xuất và thương mại DS; 01 giấy chứng nhận kiểm định An toàn kỹ thuật và Bảo vệ môi trường phương tiện xe cơ giới đường bộ và 01 tem kiểm định xe ô tô BKS 24H - 011.83 tạm giữ của Công ty TNHH MTV sản xuất OC Lào Cai.

* Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo Dương Đức M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, máy cũ đã qua sử dụng kèm theo 01 sim điện thoại của Nguyễn Kim D.

- Số tiền 371.000.000đ (Ba trăm bảy mươi mốt triệu đồng) do gia đình bị cáo Dương Đức M giao nộp.

(Các vật chứng thể hiện chi tiết cụ thể theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/01/2024 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai; Số tiền được gửi tại tài khoản 3949.0.9051074 Kho bạc nhà nước tỉnh Lào Cai theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 16/3/2023 và nộp tại Cục Thi hành án tỉnh Lào cai theo các Biên lai thu tiền số 0000001 ngày 10/01/2024, Biên lai thu tiền số 0000003 ngày 22/3/2024).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Dương Đức M và Nguyễn Kim D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ