- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG THỊ H - phạm tội nhận hối lộ (điều 354 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 279 Bộ luật Hình sự; Điều 354 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 221/2018/HS-PT Ngày: 01/10/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Kiều, Thƣ ký Tòa án.
Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2018/TLPT-HS ngày 08 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo TRƢƠNG THỊ H về tội “Nhận hối lộ”. Do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nông Văn T và bà Hoàng Thị O đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59/2017/HS-ST ngày 16/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo có kháng cáo:
TRƢƠNG THỊ H, sinh năm 1963, tại tỉnh Quảng Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; trình độ văn hóa: 10/10 ; nghề nghiệp: Thẩm phán, đã bị tạm đình chỉ công tác theo Quyết định số 10/QĐ-TCCB ngày 16/01/2017 của Chánh án Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; con ông: Trƣơng Tấn Triển và bà: Nguyễn Thị D (đều chết); chồng là: Bùi Đình L, sinh năm 1960, có 01 con sinh năm 1989.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại,
.
- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nông Văn T, sinh năm 1969; trú tại: Thôn 12, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, mặt.
Bà Hoàng Thị O, sinh năm 1971; trú tại: Thôn 12, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, mặt.
–
Ông Nông Văn T
Hoàng Thị O, (vắng mặt).
-
-
Ông Nông Văn T, (có mặt).
–
Ông Nông Văn T, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
TRƢƠNG THỊ H là Phó Chánh án TAND huyện E, tỉnh Đắk Lắk đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ ản Nông Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” quy định tại Điều 202 BLHS. Quá trình giải quyết vụ án, TRƢƠNG THỊ H ra Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 56/2016/QĐST-TA ngày 25/10/2016, dự kiến xét xử ngày 10/11/2016. Chiều ngày 27/10/2016, Nông Văn T đến phòng làm việc của TRƢƠNG THỊ H nhận Quyết định trên và hỏi TRƢƠNG THỊ H về mức án. TRƢƠNG THỊ H nói lỗi hoàn toàn do ông T nên mức hình phạt tử năm năm đến mƣời lăm năm tù (BL349). Nông Văn T đặt vấn đề với TRƢƠNG THỊ H xin giảm nhẹ hình phạt vì phải ở nhà nuôi vợ con. TRƢƠNG THỊ H đã cho Nông Văn T số điện thoại 0919953399 để liên lạc.
Ngày 02/11/2016, TRƢƠNG THỊ H gọi điện thoại đến số máy 0919410938 của ông T nói “có làm không?” ý bảo ông T “có lo chạy để đƣợc hƣởng án treo không?”. Nông Văn T hỏi TRƢƠNG THỊ H “hết bao nhiêu?”, TRƢƠNG THỊ H nói “phải lo cấp sơ thẩm và cả phúc thẩm nên hết 80 đến 90 triệu đồng”. Sau đó, Nông Văn T gọi điện thoại xin TRƢƠNG THỊ H bớt cho 10 triệu đồng (BL số 341, 345, 349). TRƢƠNG THỊ H hẹn Nông Văn T đến nhà nói chuyện.
Tài liệu điều tra thể hiện, TRƢƠNG THỊ H liên tục gọi điện thoại cho Nông Văn T giục đƣa tiền vì sắp đến ngày xét xử nhƣng do chƣa lo đủ tiền nên TRƢƠNG THỊ H bảo Nông Văn T làm đơn xin hoãn phiên tòa. TAND huyện E ra Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2016/HSST/QĐ-HPT ngày 10/11/201 đến ngày 24/11/2016. Do mẹ đẻ mất nên ngày 21/11/2016 TRƢƠNG THỊ H kí thông báo mở lại phiên tòa vào 14h ngày 06/12/2016.
Khoảng 18h ngày 03/12/2016, Hoàng Thị O (là vợ Ông T) cùng Nông Văn T1 (là con trai) đến nhà TRƢƠNG THỊ H trình bày hoàn cảnh khó khăn, gia đình mới thu xếp đƣợc 50 triệu đồng, xin bớt 10 triệu đồng. H đồng ý và hẹn phải lo đủ 80 triệu đồng trong ngày 04/12/2016. Khoảng 09h ngày 04/12/2016 TRƢƠNG THỊ H gọi điện thoại cho Nông Văn T nói “có làm thì đƣa tiền ra”, Nông Văn T nói “đƣa trƣớc 50 triệu đƣợc không?” nhƣng H không đồng ý, nói “đủ thì mang ra”.
Khoảng 12h30 ngày 05/12/2016 Nông Văn T cùng vợ là Hoàng Thị O đến gặp H tại nhà riêng và đƣa 80 triệu đồng (gồm 08 cục, mỗi cục có nhiều mệnh giá khác nhau, buộc bằng dây chun). Trƣơng Thi H nhận tiền và cất giữ tại nhà riêng (BL số 349, 350, 353). Nông Văn T đã chụp ảnh số tiền này, ghi âm, ghi hình quá trình nhận tiền của TRƢƠNG THỊ H và giao nộp cho Cơ quan điêu tra.
Sáng ngày 06/12/2016, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đăk Lăk tiến hành làm việc, TRƢƠNG THỊ H đã khai nhận hành vi nhƣ trên và tự nguyện giao nộp 80 triệu đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 58/C54“P6 ngày 16/5/2017 của Viện kH học hình sự - Bộ Công an kết luận:
Tiếng nói của ngƣời phụ nữ đƣợc gọi là “chị” trong mẫu cần giám định (kí hiệu H trong bản dịch nội dung) với tiếng nói của TRƢƠNG THỊ H trong mẫu so sánh của cùng một ngƣời.
Tiếng nói của ngƣời đàn ông đƣợc gọi là “em” trong mẫu cần giám định (kí hiệu là Ông T trong bản dịch nội dung) với tiếng nói của Nông Văn T trong mẫu so sánh là của cùng một ngƣời.
Ngoài ra, TRƢƠNG THỊ H chỉ đạo Hoàng Trí L soạn sẵn dự thảo hai Bản án có mức án khác nhau. Cụ thể: Dự thảo bản án ngày 10/11/2016 ghi “ Xử phạt bị cáo Nông Văn T... tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án” (BL 60-62). Bản án dự thảo ngày 06/12/2016 ghi “Xử phạt bị cáo Nông Văn T 01 (một) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm” (BL: 57-59).
Đối với Hoàng Trí L - Thƣ ký và ông Trần Văn L - Chánh án TAND huyện E, tỉnh Đăk Lăk biết việc TRƢƠNG THỊ H nhận tiền của Nông Văn T nhƣng cả hai không tham gia, không thỏa thuận hay hƣởng lợi từ việc làm của TRƢƠNG THỊ H. Hơn nữa, Hoàng Trí L nói H báo cáo ông Trần Văn L sự việc trên. Sau khi H báo cáo, ông L yêu cầu H trả tiền cho Nông Văn T và cho quan điểm chỉ đạo vụ án Nông Văn T không đƣợc hƣởng án treo nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với Trần Văn L và Hoàng Trí L.
Đối với ông Nguyễn Văn Đ - Viện trƣởng và ông Hồ Xuân T2 – Kiểm sát viên VKSND huyện E, tỉnh Đăk Lăk, tài liệu điều tra thể hiện qua trao đổi giữa TRƢƠNG THỊ H với Nông Văn T có nội dung phải đƣa tiền cho Viện kiểm sát và cấp trên để hƣởng án treo. Tuy nhiên, TRƢƠNG THỊ H không trao đổi và không đƣa tiền cho bất kỳ ai. Ông Đ và ông T2 không biết việc TRƢƠNG THỊ H nhận tiền của Nông Văn T nên không có cơ sở xem xét, xử lý.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2017/HS-ST ngày 16/10/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo TRƢƠNG THỊ H phạm tội: “Nhận hối lộ”.
2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 279 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm x khoản 1 Điều 51 năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo TRƢƠNG THỊ H 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyết định về phần án phí; quyền kháng cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/10/2017, bị cáo TRƢƠNG THỊ H kháng cáo
.
Ngày 16/10/2017, ông Nông Văn T kháng cáo về phần dân sự và đề nghị buộc bị cáo phải trả phần lãi suất chậm trả đối với số tiền bị cáo đã nhận là 80.000.000đồng.
Ngày 27/10/2017, bà Hoàng Thị O kháng cáo cho rằng bản án xử không khách quan, bỏ lọt tội, đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và yêu cầu phần tiền lãi chậm trả đối với số tiền 80.000.000 đồng.
TRƢƠNG THỊ H
kháng cáo.
TRƢƠNG THỊ H
Hoàng Thị O
không
cho ông Nông Văn T
Hoàng Thị O
không
TRƢƠNG THỊ H
354
không
Nông Văn T
Nông Văn T
bồi thƣờng thiệt hại
TRƢƠNG THỊ H
không TRƢƠNG THỊ H
ông Nông Văn T
Nông Văn T
trong [1] Bị cáo TRƢƠNG THỊ H đã lợi dụng việc đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án Nông Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” quy định tại Điều 202
. Khi ông Nông Văn T đặt vấn đề với TRƢƠNG THỊ H xin giảm nhẹ hình phạt và hƣởng án treo. Bị cáo H đồng ý nếu ông T
ông T hƣởng án treo. Bị cáo H
Nông Văn T
Hoàng Thị O [2] Bị cáo TRƢƠNG THỊ H
ẹ khi
về tội: [3] H xâm phạm đến h
không phải xử phạt nghiêm để đảm bảo tính giáo dục và răn đe phòng ngừa chung. [4]
TRƢƠNG THỊ H
kháng cáo
, Điều 348 kháng cáo
TRƢƠNG THỊ H. [5]
kháng cáo
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn T
Hoàng Thị O
: Số tiền 80.000.000 đồng mà Nông Văn T
Nông Văn T nên áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên trả 80.000.000 đồng cho ông Nông Văn T và bà Hoàng Thị O
kháng cáo
Lu
. [6]
Hoàng Thị O
Bộ luật Tố tụng
Hoàng Thị O [7]
Đà Nẵng
không
.
b
“
.
không
354
nên không [8]
TRƢƠNG THỊ H, T
TRƢƠNG THỊ H không
[9]
q
kháng cáo,
.
Vì các lẽ trên;
Điều 348, 2015.
QUYẾT ĐỊNH
TRƢƠNG THỊ H.
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn T
.
59/2017/HS-ST ngày 16/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk.
Tuyên bố: Bị cáo TRƢƠNG THỊ H phạm tội: “Nhận hối lộ”.
1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 279 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017
của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo TRƢƠNG THỊ H 12
tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2.
q
.
3.
TRƢƠNG THỊ H không
.
Ông Nông Văn T biên lai
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - - - - ; - - Lƣu hồ sơ, VT, Phòng HCTP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |