vanban.org

Bản án 10/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang Tuyên án 05/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước L 02 (hai) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án 05/3/2024 (ngày năm, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn). Giao bị cáo Nguyễn Phước L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giám sát … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phước Lộc vi phạm giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày 05 tháng 3 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Dũng; ông Chau Khon Sốc.

Thư ký phiên toà: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thái Hòa - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 07/2024/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Phước L, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2002, tại huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước T và bà Trần Ngọc Huyền T1. Tiền án, tiền sự: Chưa; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/10/2023 đến nay; bị cáo có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

1. Bị hại:

1.1. Anh Thái Văn T2, sinh năm: 2003 (chết);

Đại diện hợp pháp cho bị hại Thái Văn T2: Ông Thái Văn L1, sinh năm: 1967 – bà Phạm Thị N, sinh năm: 1966; cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

1.2. Thái Văn Lượng E, sinh năm 2009; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Đại diện hợp pháp cho bị hại Thái Văn L2 Em: Ông Thái Văn M, sinh năm: 1978; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

1.3. Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm: 1986; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

1.4. Trần Vũ K, sinh năm: 2009; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Đại diện hợp pháp cho bị hại Trần Vũ K: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm: 1986; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

2.1. Anh Thái Văn T3, sinh năm: 1993; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

2.2. Ông Thái Văn M, sinh năm: 1978; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

2.3. Ông Nguyễn Phước T, sinh năm: 1978; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2.4. Ông Thái Văn L1, sinh năm: 1967; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

2.5. Ông Lê Văn H1, sinh năm: 1972; địa chỉ cư trú: Ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.

3. Người làm chứng:

3.1. Đoàn Thị Mỹ Q, sinh năm: 1997;

3.2. Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm: 1977.

Tại phiên tòa, có mặt ông Nguyễn Phước T, bà Nguyễn Thị Hồng N1, những người còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phước L có giấy phép lái xe hạng B2, số 870207004628 do Sở G cấp có giá trị đến ngày 29/12/2032. Ngày 08/6/2023 L điều khiển xe ô tô loại xe Potuner, biển số 66A – 016.05 chở gia đình từ nhà thuộc ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đến H để viếng chùa.

Đến khoảng 11 giờ 35 phút cùng ngày, xe lưu thông trên tuyến Quốc lộ N, hướng xã L - xã V, khi đến km 154 + 400 thuộc ấp V, xã L, huyện T, L thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tay lái, lấn sang phần đường bên trái va chạm với phần đầu của 02 xe mô tô 67F1 - 081.23 do Thái Văn T2 điều khiển xe chở Thái Văn L2 Em chạy phía trước, rồi tiếp tục va chạm với xe 67F7 - 6295 do Nguyễn Thị Cẩm Hồng điều k chở Trần Vũ K chạy phía sau (theo hướng ngược chiều), làm 02 xe mô tô cùng T2, Lượng E, H, K bị đẩy ngược về sau và ngã vào cửa hàng rào bằng kim loại của nhà ông Lê Văn H1, còn xe ô tô bị quay đầu lại, tất cả mãnh vỡ, dấu vết, vị trí các xe đều nằm trên phần đường bên phải theo chiều hướng của hai xe mô tô. Hậu quả, T2 chết trên đường đi cấp cứu; riêng Lượng E, H, K bị thương tích nặng.

Tang vật thu giữ gồm có:

- 01 xe ô tô 66A - 016.05, hiệu Toyota, màu bạc, số máy 2TR7750986, số khung 69G2E9007042, loại FORTUNER; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DA - 3292565; 2 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên chủ xe Nguyễn Phước T;

- 01 xe mô tô 67F1 - 081.23, hiệu Honda, loại Wave S, màu đen - xám, số máy JC43E053262638E0074234, số khung 3801GY01847643159Y019407; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên chủ xe Thái Văn L1;

- 01 xe mô tô 67F7 - 6295, hiệu XIONGSHI, màu đỏ, số máy 0001519, số khung 200005254; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên chủ xe Nguyễn Văn O;

- 01 mảnh vỡ bằng nhựa màu trắng (kích thước 2,5 x 2 cm); 01 khung nhựa màu đen trắng kích thước (108 x 17 cm); 01 mảnh gương chiếu hậu xe mô tô; 01 mảnh vỡ màu vàng, đỏ (kích thước 15 x 10 cm); 01 khối kim loại hình phức tạp có nhiều ngạnh nhọn (kích thước 26 x 12 cm);

- 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 870207004628 tên Nguyễn Phước L.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn của người tham gia giao thông ngày 08/6/2023 của Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T, ghi nhận: Nguyễn Phước L sinh năm 2002, cư trú: ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nồng độ cồn 0,000 mg/l khí thở.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tử thi như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 08/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ghi nhận: Phần đường theo hướng L - V, mặt đường rộng 7,4 m, đường hai chiều, không vạch kẽ giữa đường. Vùng mãnh vỡ (1) kích thước (1,9 x 1,6 m); Dấu vết phanh (2) kích thước (16,3 x 0,3 m); Dấu vết phanh (3) kích thước (18,5 x 0,3 m); Gương chiếu hậu của X (4); Vùng mãnh vỡ nằm ngoài mép đường chuẩn (5) kích thước (6,1 x 2,0 m); Dấu vết màu nâu nằm ngoài mép đường chuẩn (6) kích thước (0,3 x 0,15 m); Xe ô tô 66A - 016.05 (7), tâm trục bánh xe trước, sau bên phải nằm ngoài mép đường chuẩn; Xe mô tô 67 F7 - 6295 (8) và xe mô tô 67F1 - 081.23 (9) đều ngã nghiên sang phải; Mãnh vỡ màu đen trắng (10) kích thước (1,08 x 0,17 m); Dấu vết ma sát với mặt đường (11) kích thước (04 x 0,4 m). Tất cả mãnh vỡ, dấu vết, vị trí xe trên đều nằm phần đường bên phải hướng V - L.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện lập vào các ngày 08/9/2023, 22/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ghi nhận:

- Xe ô tô 66A - 016.05: Kính chắn gió phía trước bị nứt kích thước (141 x 74 cm); Nắp capo bị biến dạng phía bên trái từ trước ra sau; Gương chiếu hậu, cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, đèn sương mù phía trước bên trái và cụm ốp, đèn sương mù bên phải, biển số xe đều bị gãy vỡ; Ốp, chắn bùn, mặt trong lốp bánh xe phía trước bên trái bị biến dạng, trượt xước mất sơn và nhựa; C và trục thước lái, két làm mát, cản trước xe bị biến dạng từ trước ra sau, có nhiều vết trượt xước cách mặt đất 38 cm; Phần chắn đà bên trái bị biến dạng hướng từ trước ra sau kích thước (15 x 12 cm) và cách mặt đất 58 cm.

- Xe mô tô 67F1 - 081.23: Cụm đồng hồ, đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, cụm ốp nhựa, cung trước và sau chắn bùn trước, chắn gió hai bên, bộ phận giảm sốc bên trái và phải phía trước bị gãy vỡ; Tay cầm bên trái bị cong hướng từ trước ra sau; Bánh xe trước bị biến dạng, block máy bị vỡ; Ốp nhựa sườn xe, bộ phận giảm sốc sau bên trái bị 3 gãy vỡ; Gác chân và đèn tín hiệu sau bên phải bị gãy vỡ, bộ phận giảm sốc bên phải bị cong biến dạng hướng từ trước ra sau.

- Xe mô tô 67F7 - 6295: Cụm đồng hồ, đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, cụm ốp nhựa, cung trước, sau chắn bùn, chắn gió hai bên phía trước bị gãy vỡ; Bộ phận giảm sốc, vành xe phía trước bị gãy, cong biến dạng hướng từ trước ra sau; Khung yên xe bị cong biến dạng; Ốp nhựa sườn xe hai bên, biển số, gác chân sau phải trái, cụm đèn phía sau bị gãy vỡ văng khỏi vị trí ban đầu.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích các số 672, 673, 674 ngày 22/9/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh A, ghi nhận: 1. Thái Văn Lượng E, tỷ lệ thương tích gây nên hiện tại 54%. 2. Nguyễn Thị Cẩm H, tỷ lệ thương tích gây nên hiện tại 53%. 3. Trần Vũ K, tỷ lệ thương tích gây nên hiện tại 06%. Tổng tỷ lệ thương tích gây nên hiện tại của Lượng E, H, K là 113 %.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 184 ngày 09/6/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh A, ghi nhận: Thái Văn T2, chết do nguyên nhân gãy trật cột sống cổ, chèn ép tủy.

Cáo trạng số: 07/CT-VKSTT-HS ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố Nguyễn Phước L về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phước L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Phước T trình bày: Xe ô tô 66A - 016.05, hiệu Toyota, loại FORTUNER là do ông mua vào năm 2016 với giấy đăng ký xe mang tên ông để trong gia đình dùng chung, ai có giấy phép lái xe thì sử dụng. L là con ruột sử dụng xe gây thiệt hại cũng như số tiền ông xuất ra bồi thường cho các bị hại ông không yêu cầu phải trả lại.

Người làm chứng Đoàn Thị Mỹ Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu trên.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Phước L từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm.

Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tuyên trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Phước L; tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mãnh vỡ bằng nhựa màu trắng (kích thước 2,5 x 2 cm); 01 khung nhựa màu đen trắng kích thước (108 x 17 cm); 01 mảnh gương chiếu hậu xe mô tô; 01 mảnh vỡ màu vàng, đỏ (kích thước 15 x 10 cm); 01 khối kim loại hình phức tạp có nhiều ngạnh nhọn (kích thước 26 x 12 cm);

Về hình phạt bổ sung: Không. 4

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp gia đình bị hại T2 và tất cả bị hại Lượng E, H, K; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên không đề cập xem xét giải quyết.

Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

. Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phước L đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng về thời gian, địa điểm, diễn biến gây tai nạn và hậu quả tội phạm gây ra, cùng các vật chứng đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ 35 phút, ngày 08/6/2023, bị cáo L điều khiển xe ô tô con, loại Fotuner, biển số 66A – 016.05 chở gia đình từ nhà đến H để viếng chùa. Khi đến, km 154 + 400 thuộc ấp V, xã L, huyện T, L thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tay lái, lấn sang phần đường bên trái va chạm với phần đầu của 02 xe mô tô 67F1 - 081.23 do Thái Văn T2 điều khiển xe chở Thái Văn L2 Em chạy phía trước, rồi tiếp tục va chạm với xe 67F7 - 6295 do Nguyễn Thị Cẩm Hồng điều k chở Trần Vũ K chạy phía sau (theo hướng ngược chiều), làm 02 xe mô tô cùng T2, Lượng E, H, K bị đẩy ngược về sau và ngã vào cửa hàng rào bằng kim loại của nhà ông Lê Văn H1. Hậu quả, T2 chết trên đường đi cấp cứu; riêng Lượng E, H, K bị thương tích nặng.

Hành vi nêu trên của bị cáo L đã vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 về việc: Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Bị cáo L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi vô ý vì cẩu thả, thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm 5 hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (tội phạm nghiêm trọng), như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của nhiều người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân lo lắng mỗi khi tham gia giao thông. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung xã hội.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, HĐXX nhận thấy:

Các bị hại Thái Văn T2, Nguyễn Thị Cẩm Hồng điều khiển xe mô tô bên làn phải hướng V - L thuộc phần đường của mình, còn bị cáo điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái phạm qua phần đường do các bị hại điều khiển dẫn đến gây thiệt hại về tính mạng cho T2 và tổn hại sức khỏe cho Lượng E, H và K, điều đó cho thấy lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét, bị cáo mới phạm tội lần đầu, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và trong thời gian cho tại ngoại bị cáo không vi phạm nào khác ở trường nơi bị cáo học và địa phương nơi bị cáo cư trú, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải của mình. Sau gây tai nạn, bị cáo có tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, các bị hại đều có đơn bãi nại đối với bị cáo, tại địa phương gia đình bị cáo đã thực hiện tốt công tác thiện nguyện, phát gạo cho người nghèo và cho Bệnh viện Hữu Nghị tỉnh, đóng góp tiền mua xe cứu thương trong xã… đó là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất của vụ án tuy là nghiêm trọng, nhưng bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo chỉ vô ý vì cẩu thả chứ không cố ý; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và hiện là sinh viên năm 4 của Trường Đại học Bách Khoa thành phố H. Dù trong thời gian đi học nhưng khi bị triệu tập thì bị cáo chấp hành nghiêm nghĩa vụ của mình, phối hợp tốt với Cơ quan điều tra để sớm kết thúc điều tra vụ án, điều đó cho thấy với ý chí phấn đấu cao, sự nổ lực hết mình của bị cáo… nên HĐXX thật sự căn nhắc nếu buộc bị cáo phải cách ly xã hội thì việc học tập của bị cáo xem như bị chấm dứt, tương lai của bị cáo bị đánh đổi quá lớn là không cần thiết mà nghĩ nên cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo vừa cải tạo vừa tiếp tục học tập của mình như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ răn đe bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là sinh viên, không phải nghề nghiệp lái xe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Xét, giai đoạn điều tra đã xử lý giao trả cho người có quyền lợi liên quan Nguyễn Phước T: 01 xe ô tô 66A - 016.05, hiệu Toyota, màu bạc, số máy 2TR7750986, số khung 69G2E9007042, loại FORTUNER; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DA - 3292565; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên chủ xe Nguyễn Phước T; trả cho đại diện bị hại Thái Văn T2: 01 xe mô tô 67F1 - 081.23, hiệu Honda, loại Wave S, màu đen - xám, số máy JC43E053262638E0074234, số khung 3801GY01847643159Y019407; 01 giấy chứng 6 nhận đăng ký xe mô tô tên chủ xe Thái Văn L1; trả cho bị hại Nguyễn Thị Cẩm H: 01 xe mô tô 67F7 - 6295, hiệu XIONGSHI, màu đỏ, số máy 0001519, số khung 200005254; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên chủ xe Nguyễn Văn O là phù hợp, các bên không khiếu nại gì khác, nên không đề cập xem xét. Đối với: 01 mãnh vỡ bằng nhựa màu trắng (kích thước 2,5 x 2 cm); 01 khung nhựa màu đen trắng kích thước (108 x 17 cm); 01 mảnh gương chiếu hậu xe mô tô; 01 mảnh vỡ màu vàng, đỏ (kích thước 15 x 10 cm); 01 khối kim loại hình phức tạp có nhiều ngạnh nhọn (kích thước 26 x 12 cm), hiện không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. Riêng còn 01 giấy phép lái xe hạng B2 tên Nguyễn P, số 870207004628 là giấy tờ cá nhân của bị cáo, nên cần tuyên trả.

. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp cho bị hại T2 và các bị hại Lượng E, H, K và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác, nên HĐXX không đề xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước L 02 (hai) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án 05/3/2024 (ngày năm, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Giao bị cáo Nguyễn Phước L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 mãnh vỡ bằng nhựa màu trắng (kích thước 2,5 x 2 cm); 01 khung nhựa màu đen trắng kích thước (108 x 17 cm); 01 mảnh gương chiếu hậu xe mô tô; 01 mảnh vỡ màu vàng, đỏ (kích thước 15 x 10 cm); 01 khối kim loại hình phức tạp có nhiều ngạnh nhọn (kích thước 26 x 12 cm).

- Trả cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 tên Nguyễn Phước L, số 870207004628.

(Vật tiêu hủy và tuyên trả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/02/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn). 7

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Phước L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/3/2024), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ