vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hữu H.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Hữu H được ly hôn với bà Nguyễn Thị H1. Về con chung: Bà Nguyễn Thị H1 được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hữu Thành Đ, sinh ngày 28-11-2006 và Phạm Hữu Tuấn A, sinh ngày 28-02-2012. Ông Phạm Hữu H không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hữu H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNST
Ngày: 23-01-2024
V/v tranh chấp“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Cúc

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tám

Ông Đặng Song Hoàn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Ngọc Thủy, cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 731/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp“Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXX-STHNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29-12-2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Hữu H, sinh năm 1977 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Nơi cư trú cuối cùng: Số B đường H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

1.Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn, bản tự khai nguyên đơn ông Phan Hữu H2 trình bày :

Về hôn nhân: Ông Phạm Hữu H và bà Nguyễn Thị H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố V vào năm 2004, hôn nhân đúng pháp luật.Trong thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn thương yêu chăm sóc nhau, tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt không giải quyết được. Năm 2019, bà H1 bỏ nhà đi và từ đó đến nay không có tin tức gì. Ông H đã về nhà bố mẹ bà H1 để hỏi tin tức nhưng bà H1 cũng không có liên lạc gì với gia đình.Ông đã đi nhiều nơi, hỏi những người thân và những người bạn của bà H1 nhưng không ai biết hiện nay bà H1 sinh sống làm gì, ở đâu. Ông H đã có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu tuyên bố bà Nguyễn Thị H1 mất tích. Ngày 23-12-2022, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã thụ lý đơn yêu cầu của ông về việc tuyên bố bà H1 mất tích. Ngày 21-7-2023, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu ban hành Quyết định số 09/2023/QĐST–VDS chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Hữu H, tuyên bố bà Nguyễn Thị H1 mất tích. Nay ông xác định không còn tình cảm với bà H1 nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị H1.

Về con chung: Ông Phạm Hữu H và bà Nguyễn Thị H1 có 02 (hai) con chung tên là Phạm Hữu Thành Đ, sinh ngày 28-11-2006 và Phạm Hữu Tuấn A, sinh ngày 28-02-2012. Từ khi bà H1 bỏ nhà ra đi đã đưa hai con chung đi theo nên ông H hiện không biết các con ở đâu. Vì vậy, ông nhường quyền nuôi dưỡng hai con chung cho bà H1 và ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại Quyết định số 09/2023/QĐST – VDS ngày 21-7-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định: Chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Hữu H về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị H1 mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Ông Phạm Hữu H, có đơn khởi kiện“ Ly hôn” với bà Nguyễn Thị H1, bà H1 có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ hôn nhân:

Ông Phạm Hữu H và bà Nguyễn Thị H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố V vào năm 2004 nên quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà H1 là hôn nhân hợp pháp.Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, cả hai không tự dàn xếp, khắc phục được nên vào năm 2019, bà H1 đã bỏ nhà đi cho đến nay, không có tin tức, địa chỉ.

Tại Quyết định số 09/2023/QĐST - VDS ngày 21-7-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã tuyên bố bà Nguyễn Thị H1 mất tích. Nên khả năng hàn gắn tình cảm giữa ông H và bà H1 là không thể thực hiện được, m i người sống một nơi, mục đích của hôn nhân giữa vợ chồng không đạt được, không còn hạnh phúc nên nguyện vọng yêu cầu xin ly hôn của ông H với bà H1 là có cơ sở chấp nhận. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của ông H, ông H được ly hôn với bà H1.

. Về con chung: Ông Phạm Hữu H và bà Nguyễn Thị H1 có 02 (hai) con chung tên là Phạm Hữu Thành Đ, sinh ngày 28-11-2006 và Phạm Hữu Tuấn A, sinh ngày 28-02-2012. Ông H nhường quyền nuôi con cho bà H1. Theo ông H thì từ khi bà H1 bỏ nhà ra đi đã đưa hai con chung đi theo nên ông H hiện không biết các con ở đâu. Do đó, Tòa án không tiến hành lấy ý kiến nguyện vọng của các cháu ở với ông H hay ở với bà H1.Thực tế hiện nay, cháu Thành Đ và cháu Tuấn A đang sống cùng với bà H1, ông H có nguyện vọng nhường quyền nuôi con cho bà H1 nên tạm thời Hội đồng xét xử giao con cho bà H1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Ông H không cấp dưỡng nuôi con, bà H1 vắng mặt không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau này ông H, bà H1 còn được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông H phải nộp theo quy định pháp luật.

Từ những nhận định trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hữu H.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, của Luật hôn nhân và gia đình Điều 28, Điều 39, Điều 228 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban T.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hữu H.

1.Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Hữu H được ly hôn với bà Nguyễn Thị H1.

2.Về con chung: Bà Nguyễn Thị H1 được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hữu Thành Đ, sinh ngày 28-11-2006 và Phạm Hữu Tuấn A, sinh ngày 28-02-2012. Ông Phạm Hữu H không cấp dưỡng nuôi con.

Ông H có quyền thăm và chăm sóc con chung không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình,Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3.Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4.Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Hữu H nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001449 ngày 19-10-2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Ông H đã nộp xong án phí hôn nhân.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6.Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (đối với các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI DỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND tp. Vũng Tàu;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- THADS tp. V; -F, thành phố Vũng Tàu Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

- Các đương sự -Lưu hs vụ án.

Hoàng Thị C

.

Cỡ chữ