- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Quyên và anh Thành."
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thị Q và anh Trần Thế T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; luật tố tụng
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày 01/02/2024 “V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toản.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Sửu
2. Ông Diêm Đăng Hoạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà:
Ông Hà Đăng Chương, Kiểm sát viên.
Ngày 01/02/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên xét xử sơ thẩm
công khai vụ án thụ lý số: 278/2023/TLST-HNGĐ ngày 25/10/2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐST- HNGĐ ngày 02/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/QĐST-HNGĐ ngày 16/01/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Q, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã L,
huyện T, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Thế T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện T,
tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Theo đơn xin ly hôn và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là
chị Hà Thị Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Thế T ngày 30/01/2015,
trước khi cưới vợ chồng được tự do tìm hiểu thoả thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn Đ, xã L, huyện T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến tháng 4/2023 thì xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và trong làm ăn, phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát; gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không thành. Do mâu thuẫn trầm trọng nên tháng 04/2023 chị bỏ về gia đình mẹ đẻ ở Thôn L, xã P, huyện T sinh sống; vợ chồng chấm dứt quan hệ từ tháng 4/2023 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị đề nghị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thế Hải Đ, sinh ngày
17/8/2015 và Trần Thế Anh K, sinh ngày 06/7/2018, hiện đang ở cùng anh T, các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Vợ chồng ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu A K vì cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ; anh T nuôi cháu Hải Đ. Hiện nay chị đang làm giáo viên, thu nhập bình quân 6.000.000 đồng/tháng, chị có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Toà án giải
quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Q giữ nguyên yêu cầu trên.
+ Quá trình tiến hành tố tụng bị đơn anh Trần Thế T trình bày: Anh xác nhận
nội dung chị Q trình bày về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống là đúng. Quá trình chung sống, vợ chồng anh có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống; từ tháng 4/2023 chị Q về gia đình bố mẹ đẻ ở. Nay chị Q làm đơn xin ly hôn, anh có nguyện vọng để vợ chồng đoàn tụ và không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thế Hải Đ, sinh ngày
17/8/2015 và Trần Thế Anh K, sinh ngày 06/7/2018; con chung đang ở với anh. Nếu vợ chồng ly hôn, anh đề nghị được nuôi cả 2 con chung là cháu Hải Đ và cháu A K.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải
quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, anh T vắng mặt không có lý do.
+ Tại biên bản tự khai ngày 08/12/2023, cháu Trần Thế Hải Đ có nguyện
vọng được ở cùng bố nếu bố mẹ ly hôn.
+ Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà phát
biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như
tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt không có lý do.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56,
58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; các điều 28, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thị Q và anh Trần Thế T; về con chung: Giao chị Q trực tiếp nuôi con chung là Trần Thế Anh K, sinh ngày 06/7/2018; giao cho anh T trực tiếp nuôi con chung là Trần Thế Hải Đ, sinh ngày 17/8/2015. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về áp dụng luật tố tụng: Anh Trần Thế T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
hai lần nhưng vẫn vắng mặt; căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh T là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống trong sinh hoạt, làm ăn và phát triển kinh tế gia đình, dẫn đến vợ chồng xảy ra to tiếng, xô xát. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2023 đến nay. Gia đình đã hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không đạt kết quả. Nay, chị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị được ly hôn, anh T không có tác động gì để vợ chồng về đoàn tụ; điều này chứng tỏ hôn nhân giữa chị Q và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do vậy, cần xử cho chị Q được ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thế Hải Đ, sinh ngày
17/8/2015 và Trần Thế Anh K, sinh ngày 06/7/2018. Cháu đang ở cùng anh T, vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường. Vợ chồng ly hôn, chị Q đề nghị được nuôi cháu K, để anh T nuôi cháu Đ. Hiện nay chị Q đang làm giáo viên còn anh T làm nghề tự do đều có chỗ ở và thu nhập. Như vậy, xác định chị Q và anh T đều có đủ điều kiện nuôi con. Cháu K còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ, cháu Đ có nguyện vọng được ở với anh T. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cũng như phù hợp với nguyện vọng của con chung, cần giao cháu K cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đ cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; sau khi vợ chồng ly hôn chị Q, anh T được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với các điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q, anh T không yêu cầu nên không đặt ra
xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Q, anh T không yêu cầu
Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều
147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
các điều 28, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hà Thị Q và anh Trần Thế T.
2. Về con chung: Giao chị Hà Thị Q trực tiếp nuôi con chung là Trần Thế
Anh K, sinh ngày 06/7/2018; anh Trần Thế T trực tiếp nuôi con chung là Trần Thế Hải Đ, sinh ngày 17/8/2015.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, chị Hà Thị Q và anh Trần Thế T được quyền thăm nom con
chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hà Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm
được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006528 ngày 25/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Yên; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Tân Yên; - UBND xã Lam Cốt, huyện Tân Yên; - Lưu HS, Vp. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn T1 |