- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VI THỊ P VÀ VI THẾ A, TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị P. Cho chị Vi Thị P được ly hôn với anh Vi Thế A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày 25/6/2024 V/v ‘‘Tranh chấp hôn nhân và gia đình’’ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Lô Văn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Bá Lịch và bà Hà Thị Ngọc Hiếu
- Thư ký phiên toà: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Toà gia đình và người chưa thành niên, Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về ‘‘Tranh chấp hôn nhân và gia đình’’ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử (lần thứ hai) số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Thị P. Sinh năm 1995.
Trú tại: Bản K N, xã C H, huyện Q C, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Vi Thế A. Sinh năm 1996.
Trú tại: Bản K N, xã C H, huyện Q C, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị P và anh Vi Thế A chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4/2016, đến ngày 27/02/2017 mới tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã Châu Hạnh, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn thì chị P và anh A về chung sống cùng gia đình bố mẹ chồng là ông Vi Văn T và bà Hoàng Thị H tại bản K N, xã C H, huyện Q C, tỉnh Nghệ An. Qúa trình chung sống có nhiều bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc, anh A hay ghen tuông vô cớ dẫn đến thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau, từ tháng 3/2023 chị P trở về nhà mẹ đẻ là bà Lim Thị K tại bản K N, xã C H, huyện Q C, tỉnh Nghệ An sinh sống cho đến nay. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc. Vì vậy, chị Vi Thị P đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vi Thế A.
- Về quan hệ con cái: Chị Vi Thị P và anh Vi Thế A có 02 người con chung là Vi Như K, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016 và Vi Kiều O, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2018, ngoài ra chị P không có con riêng và vợ chồng không nhận ai làm con nuôi. Hiện nay cả hai người con chung đang sinh sống cùng với chị P và mẹ đẻ của chị P tại bản K N, xã C H, huyện Q C, tỉnh Nghệ An. Quá trình nộp đơn khởi kiện chị P yêu cầu được giao nuôi dưỡng cả hai người con chung và yêu cầu anh A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) đối với cả hai người con cho đến khi con chung trưởng thành. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án do anh A hiện nay đi làm ăn xa, không biết đi đâu, làm gì, không rõ thời điểm trở về nên chị P thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đó là không yêu cầu anh A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nữa.
- Về tài sản và nợ: Chị Vi Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị P không yêu cầu bố mẹ của anh A phải trích chia công sức đóng góp trong thời gian làm dâu trong gia đình.
Sau khi thụ lý và quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần gửi Giấy triệu tập cho anh Vi Thế A, tuy nhiên anh A đều không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án mà không có lý do. Qua xác minh tại UBND xã Châu Hạnh, huyện Qùy Châu được biết, sau khi nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập của Tòa án thì cán bộ UBND xã đã trực tiếp nhiều lần đến nhà anh A để giao. Tuy nhiên, anh A không có mặt ở nhà và vắng mặt khỏi địa phương nên đã không trực tiếp giao được các văn bản tố tụng của Toà án. Cán bộ Tòa án đã trực tiếp xác minh, lấy lời khai của ông Vi Văn T (là bố đẻ của anh A) được biết: Hiện nay chị P và anh A đã ly thân nhau, chị P trở về nhà mẹ đẻ của chị P để sinh sống, còn anh A thì lâu nay đi làm ăn xa ở các tỉnh phía bắc, đã lâu không về thăm nhà, gia đình cũng không biết rõ anh A làm công việc gì, không rõ địa chỉ tạm trú cụ thể ở đâu. Gia đình có nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và các giấy triệu tập của Toà án gửi cho anh A, đồng thời ông T đã gọi điện thoại và thông báo cho anh A biết nội dung các văn bản tố tụng nêu trên của Toà án nhưng anh A trả lời do mắc công việc nên không về để tham gia giải quyết vụ án được và nói rằng để Toà án tiến hành giải quyết vắng mặt anh A. Kết quả xác minh tại Công an xã Châu Hạnh, huyện Qùy Châu cho biết: Anh Vi Thế A có hộ khẩu thường trú tại bản K N, xã C H, huyện Q C, tỉnh Nghệ An. Hiện nay anh A không có mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì, anh A không làm thủ tục khai báo tạm vắng hoặc cắt chuyển nơi đăng ký thường trú với chính quyền địa phương theo quy định. Quá trình giải quyết vụ án và chuẩn bị xét xử, cán bộ Tòa đã trực tiếp tiến hành giao Thông báo về phiên họp, thông báo hoãn phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa, tuy nhiên do anh Anh không có mặt ở nhà và địa phương nên đã tiến hành lập biên bản về việc không tống đạt được các văn bản tố tụng nêu trên và niêm yết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn cố tình che giấu địa chỉ và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Vi Thị P được ly hôn với anh Vi Thế A; đề nghị giao các con chung là Vi Như K, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016 và Vi Kiều O, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2018 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Thế A. Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc chị Vi Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có đăng ký thường trú tại bản K Ní, xã C H, huyện Q C, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt phù hợp quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án mặc dù đã được thông báo, tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú của bị đơn. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Xét thấy, bị đơn có nơi cư trú rõ ràng, nhưng hiện nay đi làm ăn xa, không khai báo tạm vắng hoặc cắt chuyển nơi đăng ký thường trú với chính quyền địa phương, quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được gia đình thông báo cho bị đơn biết nội dung các văn bản tố tụng của Toà gửi cho bị đơn nhưng đã không chấp hành, không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án, như vậy bị đơn đã cố tình che giấu địa chỉ, ngoài ra bị đơn không có yêu cầu phản tố. Do đó, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, đó là không yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nữa. Xét thấy, yêu cầu thay đổi nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ tình cảm: Hôn nhân giữa chị Vi Thị P và anh Vi Thế A được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống không hạnh phúc, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, anh A thường xuyên ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau và đã ly thân từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Nay chị P không còn quan tâm hay còn tình cảm với anh A nữa, vì vậy chị P nhất quyết ly hôn với anh A. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập nhưng anh A vẫn vắng mặt không có lý do. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định được hiện nay anh A đi khỏi địa phương, không biết đi đâu, làm gì và ở đâu, không chấp hành các quy định của pháp luật, cố tình vắng mặt gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Thấy rằng, hôn nhân giữa chị P và anh A không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị P, cho chị Vi Thị P được ly hôn với anh Vi Thế A, điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và cũng là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con cái: Chị Vi Thị P và anh Vi Thế A có 02 người con chung là Vi Như K, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016 và Vi Kiều O, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2018. Quá trình nộp đơn khởi kiện, chị P yêu cầu được giao nuôi dưỡng cả hai người con chung và yêu cầu anh A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) đối với cả hai người con. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án do anh A hiện nay đi làm ăn xa, không biết đi đâu, làm gì, không rõ thời điểm trở về nên chị P thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đó là không yêu cầu anh A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nữa. Xét thấy, việc giao nuôi dưỡng con chung chưa thành niên xuất phát từ việc cần phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt để cho con có thể phát triển bình thường, ăn học, khôn lớn và trưởng thành, đồng thời cũng xem xét đến khả năng của người được giao nuôi dưỡng con chung. Cháu Vi Như K mong muốn được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn, mặt khác sau khi ly thân thì cả hai người con chung đều đang sinh sống cùng với chị P tại nhà mẹ đẻ chị P do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Thấy rằng hiện nay bản thân anh A không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì, không rõ về tình trạng sức khoẻ và thu nhập như thế nào, không biết thời điểm trở về. Bản thân chị P có sức khỏe, thu nhập ổn định, có nơi ở và hiện nay đang sinh sống ổn định tại địa phương. Do đó, việc giao con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị P, giao các con chung cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Thế A. Sau này nếu giữa các bên có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản và nợ: Chị Vi Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị P không yêu cầu bố mẹ của anh A là ông Vi Văn T và bà Hoàng Thị H trích chia công sức đóng góp trong thời gian làm dâu trong gia đình, nên miễn xét. Sau này nếu giữa các bên có yêu cầu giải quyết về chia tài sản và nợ chung thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Chị Vi Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị P. Cho chị Vi Thị P được ly hôn với anh Vi Thế A.
- Về quan hệ con cái: Giao các con chung là Vi Như K, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016 và Vi Kiều O, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2018 cho chị Vi Thị P nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Vi Thế A.
Anh Vi Thế A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích chung về mọi mặt của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Vi Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009830 ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Chị Vi Thị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các bên đều được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Nguyên đơn, bị đơn; - VKSND h Quỳ Châu; VKSND tỉnh Nghệ An; - Phòng KTNV&THAHS TAND tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS huyện Quỳ Châu; - UBND xã Châu Hạnh, huyện Qùy Châu; - Lưu hồ sơ vụ án; lưu văn phòng. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lô Văn Linh |