- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị Huệ - Lò Văn Tiếp"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị H được ly hôn anh Lò Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HNGĐ - ST Ngày: 28/6/2024 v/v xin ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Khắc Tiệp và ông Hà Bá Khiên.
Thƣ ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Hà Thế Anh – Thư ký tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thúy Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 06 Năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐST – HNGĐ ngày 12/6/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt không có lý do.
NHẬN THẤY:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 27/02/2024, bản tự khai 28/02/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày: Chị và anh Lò Văn T được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Piềng Vế (nay là Bao La), huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình vào ngày 20/10/2016. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại nhà chồng ở Xóm T, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân bình thường nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về tính cách lối sống nên thường xuyên cãi nhau từ đó anh T không quan tâm đến gia đình, bỏ bê con cái. Hai vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với nhau nhưng mâu thuẫn vẫn không được giải quyết, nên năm 2022 chị H đã về nhà bố mẹ đẻ của mình ở xóm Vặn xã Bao La, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình và sống ly thân với anh Tkể từ đó cho đến nay. Chị H nhận thấy chị không còn tình cảm gì với anh Tiếp, cuộc sống hôn nhân không thể tồn tại được nên đã yêu cầu Tòa án giải quyết để chị được ly hôn anh Lò Văn T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung tên là Lò Nguyên Kh, sinh ngày 05/3/2019, hiện nay đang học tập và sinh sống ổn định cùng anh Tiếp. Sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa giải quyết là giao con cho anh T là nguời trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị H xin cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật và đề nghị có quyền thăm con.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Chị H công nhận chị và anh T không tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Hà Thị H xin nộp cả án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án anh Lò Văn T cố tình trốn tránh, gây khó khăn trong công tác giải quyết án. Tòa án đã trực tiếp phối hợp cùng UBND xã Tòng Đậu đến nhà lập biên bản về việc không thể tiến hành lấy lời khai của anh Lò Văn T và đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng để giải quyết vụ kiện theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về quá trình tiến hành tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình hỏi, tranh luận đã tuân theo đúng quy định của phiên tòa dân sự sơ thẩm nên không có yêu cầu khắc phục vi phạm về thủ tục tố tụng.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Những người tham gia tố tụng nguyên đơn có mặt, Bị đơn vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Mai Châu tiến hành thủ tục cấp tống đạt, thu thập chứng cứ, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay anh Lò Văn T vẫn vắng mặt không có lý do nên tòa án đã áp dụng khoản 1 Điều 227 và khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vụ kiện.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hà Thị H được ly hôn anh Lò Văn T. Xét về điều kiện kinh tế, nguyện vọng của chị Hà Thị H và tình hình thực tế của con chưa thành niên, cần giao Lò Nguyên Kh sinh ngày 05/3/2019 cho anh Lò Văn T là người trực Ttrông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị Hà Thị H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật và có quyền thăm con. Về tài sản chung, nợ chung Chị H công nhận không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không Ttục xem xét.
XÉT THẤY
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng dân sự: Yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị H về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo qui định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
Việc chấp hành của đương sự tại tòa án: Quá trình giải quyết vụ kiện anh Lò Văn T cố tình trốn tránh. Tòa án đã phối hợp cùng UBND xã Tòng Đậu tiến hành thủ tục tống đạt theo quy định tại khoản 4 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ kiện theo thủ tục chung. Tại phiên tòa hôm nay anh Lò Văn T vẫn cố tình vắng mặt, để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự, cũng như đẩm bảo về thời hạn giải quyết vụ kiện , Tòa án tiến hành xét xử vụ kiện là phù hợp với khoản 1 Điều 227 và khoản 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Hà Thị H và anh Lò Văn T
là hoàn toàn tự nguyện đã được UBND xã Piềng Vế (này là Bao La), huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20/10/2016. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình nhà chồng, tại Xóm T, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến tình cảm của nhau. Đầu năm 2022 Chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở xóm Vặn, xã Bao La, huyện Mai Châu, sống ly thân với anh Ttừ đó cho đến nay. Từ những nguyên nhân trên Hội đồng xét xử nhận thấy mẫu thuẫn giữa chị Hà Thị H và anh Lò Văn T là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hà Thị H xin được ly hôn anh Lò Văn T là phù hợp với Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Hiện nay anh chị có 1 con chung tên là Lò Nguyên Kh, sinh ngày 05/3/2019. Hiện tại cháu Lò Nguyên Kh ở cùng anh Tvà đang học tập ổn định tại lớp 5 tuổi, trường mầm non xã Tòng Đậu. Xét về nguyện vọng của chị Hà Thị H muốn cho con ổn định để học tập và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho con, chị H có nguyện vọng giao con cho anh Lò Văn T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, chị H xin cấp dưỡng nuôi con hàng tháng theo quy định của pháp luật cụ thể là 900.000 đồng một tháng và xin được quyền thăm con. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của chị Hà Thị H, căn cứ vào Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai của chị Hà Thị H trình bày là không có, ngày 25/3/2024 Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai biên bản phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ tại nhà anh Lò Văn T nhưng anh T không có ý kiến phản đối hoặc yêu cầu phản tố. Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận theo nội dung đơn khởi kiện của chị H.
[ 6] Về án phí: Chị Hà Thị H phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 3 điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị H được ly hôn anh Lò Văn T.
2. Về con chung: Giao cho anh Lò Văn T là người trực Ttrông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Lò Nguyên Kh, sinh ngày 05/3/2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác.
Chị Hà Thị H Phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cụ thể mỗi tháng là 900.000 đồng vào đầu tháng và có quyền thăm con. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu kể từ ngày 28/6/2024.
3. Về án phí: Chị Hà Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0003634 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu. Chị Hà Thị H Ttục phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên tòa án tỉnh Hòa Binh để xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo cùng thời hạn kể từ ngày tòa án thực hiện thủ tục niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB - VKSND tỉnh HB; - VKSND huyện MC; - THA dân sự; - UBND xã Bao La; ( đăng ký ngày 20/10/2016) - Các đương sự; - Lưu hồ sơ - Lưu cặp án | TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) Nguyễn Hồng Hƣng |