vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim H được ly hôn với bị đơn anh Võ Hoàng N.

Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Hoàng Gia P (Giới tính: Nam) sinh ngày 10/8/2019 cho chị Nguyễn Kim H được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Kim H chưa yêu cầu anh Võ Hoàng N cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Anh Võ Hoàng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim H được ly hôn với bị đơn anh Võ Hoàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 01 – 02 – 2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Út

Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim H, sinh năm: 1990 (có mặt).

Địa chỉ: khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Nơi ở hiện nay: ấp K, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Võ Hoàng N, sinh năm: 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: khu V, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Kim H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2017 chị Nguyễn Kim H với anh Võ Hoàng N tự nguyện kết hôn, đến ngày 22/12/2017 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị H và anh N đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Hoàng N.

Về con chung: Chị Nguyễn Kim H với anh Võ Hoàng N có 01 con chung tên Võ Nguyễn Hoàng Gia P (Giới tính: nam) sinh ngày 10/8/2019, hiện đang sống chung với chị H.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Kim H yêu cầu được ly hôn với anh Võ Hoàng N, con chung chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Võ Nguyễn Hoàng Gia P, không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn Võ Hoàng N nhưng bị đơn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành ghi lời khai được đối với bị đơn anh Võ Hoàng N.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Võ Hoàng N chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim H, cho chị Nguyễn Kim H được ly hôn với anh anh Võ Hoàng N.

Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Hoàng Gia P (Giới tính: Nam) sinh ngày 10/8/2019 cho chị Nguyễn Kim H tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Kim H chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Võ Hoàng N không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Võ Hoàng N đều vắng mặt nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của chị Nguyễn Kim H và anh Võ Hoàng N có hay không. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Kim H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Võ Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Võ Hoàng N.

Về thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị Nguyễn Kim H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định chị Nguyễn Kim H và anh Võ Hoàng N đã đăng ký kết hôn tại kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 22/12/2017, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Kim H, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng của chị Nguyễn Kim H và anh Võ Hoàng N rất hạnh phúc và đã có con chung, nhưng đến năm 2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị đã ly thân cho đến nay. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Kim H cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Võ Hoàng N. Xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của chị Nguyễn Kim H và anh Võ Hoàng N là trầm trọng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chị Nguyễn Kim H yêu cầu được ly hôn với anh Võ Hoàng N là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Kim H và anh Võ Hoàng N có 01 chung tên Võ Nguyễn Hoàng Gia P (Giới tính: Nam) sinh ngày 10/8/2019, hiện đang sống chung với chị Nguyễn Kim H. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Kim H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Võ Nguyễn Hoàng Gia P. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Võ Nguyễn Hoàng Gia P chưa đủ 07 tuổi nên chưa ghi nhận được ý kiến nguyện vọng của cháu mong muốn được sống chung với ai. Anh Võ Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xem như anh Võ Hoàng N từ bỏ quyền yêu cầu xin được nuôi con chung. Theo giấy xác nhận lương ngày 09/01/2024 thì chị H hiện đang làm việc tại Doanh nghiệp tư nhân M với mức lương là 9.000.000 đồng/tháng, với mức thu nhập như trên chị H đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Võ Nguyễn Hoàng Gia P nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thống nhất giao cháu Võ Nguyễn Hoàng Gia P cho chị Nguyễn Kim H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Kim H chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Võ Hoàng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Võ Hoàng N đều vắng mặt. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi được lời khai của anh Võ Hoàng N nên không xác định được khối tài sản chung, nợ chung của chị Nguyễn Kim H và anh Võ Hoàng N có hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung không giải quyết, nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Kim H phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Kim H được ly hôn với bị đơn anh Võ Hoàng N.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Hoàng Gia P (Giới tính: Nam) sinh ngày 10/8/2019 cho chị Nguyễn Kim H được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Kim H chưa yêu cầu anh Võ Hoàng N cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Anh Võ Hoàng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho chị Nguyễn Kim H và anh Võ Hoàng N thành vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Kim H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị H được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0007508 ngày 07 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh Võ Hoàng N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ