- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH B PHƯỚC Bản án số: 10/2024/HNGĐ – ST Ngày: 04-4-2024 V/v “Xin ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH B PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Thy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Vui
2. Bà Trần Xuân Đạm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh B Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Kỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 376/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh B , sinh năm 1977 (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị Quế P , sinh năm 1985(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 3, Ấp 4, xã Lộc H, huyện L , tỉnh B Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Anh B trình bày: Ông B và bà Trần Thị Quế P tự nguyện chung sống với nhau năm 2003, nhưng đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hưng. Trước khi chung sống có tìm hiểu thời gian khoảng 01 năm. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 4/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay ông B xin ly hôn với bà P .
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thúy An, sinh ngày 24/4/2004; Nguyễn Trọng Khang, sinh ngày 16/10/2005; Nguyễn Quốc Huy, sinh ngày 16/8/2013; Khi ly hôn, ông B yêu cầu nuôi con tên Huy, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con. Còn các con tên An, Khang đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Ông B và bà P không nợ ai và cũng không ai nợ lại
Về án phí: Ông B tự nguyện chịu.
* Bị đơn bà Trần Thị Quế P vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Qua xác minh tại Công an xã Lộc Hưng thì bà P có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại tổ 3, ấp 4, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh B Phước. Tòa án tiến hành tống đạt niêm yết các thủ tục, tuy nhiên bà P không đến Tòa án để cung cấp lời khai, chứng cứ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bà P vắng mặt nhưng Tòa án đã tống đạt các thủ tục đúng quy định nên đề nghị xét xử vắng mặt.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Anh B .
Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Anh B được ly hôn với bà Trần Thị Quế P .
Về con chung: Giao ông B trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Quốc Huy, sinh ngày 16/8/2013. Ông B không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Còn các con Nguyễn Thúy An, Nguyễn Trọng Khang đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông B và bà P tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Ông B và bà P không nợ ai và cũng không ai nợ lại
Về án phí: Ông B phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Ông Nguyễn Anh B có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Trần Thị Quế P nên vụ án được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà P cư trú tại xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh được quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn là bà Trần Thị Quế P vắng mặt, tuy nhiên Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt đối với bà P . Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Anh B và bà Trần Thị Quế P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, nhưng đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hưng, vì vậy hôn nhân giữa ông B và bà P là hợp pháp. Tại phiên tòa và quá trình giải quyết vụ án bà P vắng mặt. Tòa án tiến hành tống đạt các thủ tục theo quy định pháp luật nhưng bà P không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có mặt tại tòa, không thực hiện quyền lợi của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của ông B và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án, các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được để xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy ông B có đơn xin ly hôn với bà P . Ông B xác định không còn tình cảm với bà P nên vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn. Thời gian chung sống giữa ông B và bà P phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bà P thường xuyên bỏ nhà đi. Hiện nay bà P cũng bỏ nhà đi thỉnh thoảng mới về nhà thăm con. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa ông B và bà P đã trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho ông B được ly hôn với bà P .
Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thúy An, sinh ngày 24/4/2004; Nguyễn Trọng Khang, sinh ngày 16/10/2005; Nguyễn Quốc Huy, sinh ngày 16/8/2013; Khi ly hôn, ông B yêu cầu nuôi con tên Huy, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con. Còn các con tên Nguyễn Thúy An, Nguyễn Trọng Khang đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Qua ý kiến của con tên Huy có nguyện vọng sống với ông B . Tuy bà P không có mặt tại Tòa án để cung cấp lời khai, ý kiến về việc nuôi con, nhưng căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Do đó, xét nguyện vọng của cháu Huy, cần giao cháu Huy cho ông B nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông B và bà P tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Không có.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, ông B phải chịu số tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 56, Điều 58 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Anh B được ly hôn với bà Trần Thị Quế P .
2. Về con chung: Ông B nuôi con tên Nguyễn Quốc Huy, sinh ngày 16/8/2013; Con tên Nguyễn Thúy An, sinh ngày 24/4/2004; Nguyễn Trọng Khang, sinh ngày 16/10/2005 đã trưởng thành nên hội đồng xét xử không xem xét
Về cấp dưỡng: Ông B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Ông B và bà P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ: Không có.
5. Về án phí: ông B chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền số 0010766 ngày 11 tháng 10 năm 2023
6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh B Phước - VKS huyện Lộc Ninh - Các đương sự. - UBND xã Lộc Hưng - THA DS huyện Lộc Ninh - Lưu hồ sơ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân tòa | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Lệ Thy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thẩm phán – Chủ tọa phiên |